HOTLINE: 0904 89 4444

Sắc màu mường Động
Hoà Bình xưa vốn rất nổi tiếng với bốn xứ mường: “Nhất Bi, nhì Vang, tam Thàng, tứ Động”. Mường Bi thuộc vùng đất Tân Lạc; mường Vang thuộc vùng đất Lạc Sơn; mường Thàng thuộc vùng đất Cao Phong, Kỳ Sơn; mường Động thuộc vùng đất Kim Bôi.
16:28 04-10-2017
Người ta bảo trong bốn xứ mường cổ ấy có mường Động là sợ nhất. Chứng cứ về nỗi sợ ấy còn được thể hiện và lưu dấu trong câu ca dao: “Yêu nhau cho thịt cho xôi/ Ghét nhau đưa đến Kim Bôi, Hạ Bì”. Sao lại thế nhỉ? Câu hỏi ấy cứ ám ảnh khiến tôi trở đi trở lại với xứ mường này. Và rồi như thế, đến mãi rồi thành quen. 
 


Vẻ đẹp của Cọn nước nơi đây...

Nhớ lại, khi lần đầu tiên đến đất mường ấy (hồi đầu thập niên tám mươi của thế kỉ trước) bây giờ sao thấy khác xa. Hồi đó đường đi sao cảm thấy xa ngái. Con đường dải đá cấp phối đi sang Kim Bôi từ Vân Đình chằng chịt những “ổ trâu” “ổ voi” làm chiếc xe trở khách lê lết chậm chạp trên từng khúc cua. Ấn tượng, nhớ mãi về vùng đất này trong chuyến đi lần đó là những dãy núi đá vôi bạc màu mốc thếch xen lẫn màu xanh trùng điệp của cây cối núi rừng cùng các cung đường dốc lên, dốc xuống, gập gà gập ghềnh, ngoằn ngà ngoằn ngoèo, khúc kha khúc khuỷu như thể thách thức người đi. Có những đoạn, khi xe lên đến đỉnh dốc, ngoảnh lại nhìn con đường vừa đi qua thấy nó giống như một sợi dây thừng thả lỏng dưới những chân núi rồi siết chặt ngang lưng quả đồi uốn lượn lên cao giữa rừng hoa lau trắng muốt dọc hai bên đường. Có lần, xe dừng lại cho khách nghỉ ngơi ở ngay dưới chân núi. Bước xuống xe, khi chân vừa chạm đất tôi bỗng chạm vào cái mùi nồng nồng, ngai ngái nghe như đang phả ra từ đá núi ẩm ướt rêu phong càng làm cho cái lạnh thêm hun hút, buốt thấu sương giữa tiết trời mùa đông ở nơi sơn lam chướng khí. Bất giác người thoáng rung lên rờn rợn mà thấm thía cái câu nói truyền miệng của người đời về nước Sơn La ma Hoà Bình.

Bây giờ mường Động đã đổi thay khá nhiều. Giữa trung tâm muờng Động, bên cạnh di tích lịch sử khảo cổ Đống Thếch với những mộ đá huyền thoại trên 400 tuổi như chông nhọn giương lên trời cao của Đinh tộc danh gia nổi tiếng một thời được nhiều người tìm xem nay cũng đã mọc lên những khu du lịch, resort nghỉ dưỡng có thể xếp vào loại có tiếng của thời nay làm cho ở nơi “thâm sơn cùng cốc” nhưng cũng có không ít “hữu khách tầm”.  

Nơi thượng nguồn của con sông Bôi ngày ấy bây giờ không còn là chốn rừng thiêng nước độc như người đời truyền bảo nữa. Đường vào trung tâm xứ mường dẫu có quanh co đèo dốc thì cũng đã phẳng lì nhựa trải. Dọc bên đường đi, thấp thoáng xa trông vẫn còn đó bóng dáng những mái cọ nhà sàn đơn sơ mộc mạc của người bản địa ẩn hiện trên các sườn đồi, dưới các chân núi rợp xanh bóng cây hay giữa những thung lũng trong xanh hiền hoà cùng con suối chảy. Và có lẽ cũng sẽ rất may mắn cho ai đó còn nhìn thấy được những cọn nước còn sót lại đang ngày đêm cần cù guồng dòng nước trong trẻo mát lành từ con suối đưa lên những thửa ruộng hay những máng nước dẫn về bên bản. Giữa những ngổn ngang thay đổi, chốn lâm sơn mường Động vẫn còn sót lại Cửu Thác Tú Sơn với nguyên vẹn phong cảnh núi rừng hùng vĩ nguyên sơ như thủa ban đầu để không hổ danh tên gọi một thời “đệ nhất xứ mường” với chín dòng thác huyền thoại ngày đêm tung bọt trắng xoá mộng mơ tựa như chín dải lụa khác nhau từ trên trời buông xuống.  

Nhớ lại đất mường thủa ấy! Ai đã từng đến mảnh đất “chén vàng” (Kim Bôi) hẳn không chỉ biết có dòng suối khoáng nổi tiếng mà còn chẳng thể nào quên cái nếp sống “cơm đồ, nhà gác, nước vác, lợn thui” (ăn xôi đồ bằng chõ, ở nhà sàn, nước đựng trong các ống bương được vác từ các nguồn/ mỏ nước riêng về để ăn, thịt lợn đem thui chứ không tưới nước sôi rồi cạo lông). Và trong những nỗi nhớ ấy hẳn trong kí ức của không ít chàng trai là hình ảnh của một sơn nữ nào đó với đầu đội cái khăn trắng (còn gọi là mũ) và bộ trang phục “quần một ống, áo một gang” cùng những đường nét hoa văn điệu đàng quyến rũ như một bông hoa rừng đang đưa hương đua sắc. 



... nhà sàn ẩn hiện bên sường đồi

Với tôi, bộ trang phục của phụ nữ Mường thật ấn tượng, chẳng thể nào quên. Chiếc khăn đội đầu của sơn nữ Mường là một dải vải màu trắng không viền, rộng chừng một gang tay, dài quá vòng đầu để chùm lên tóc và thắt được sau gáy. Cái khăn ấy không chỉ giữ cho nếp tóc được gọn gàng mà còn che đậy cho mái đầu trước tiết trời nóng lạnh thay đổi theo mùa của núi rừng nhiệt đới. Và tôi cũng đã từng biết, với người phụ nữ Mường, mảnh khăn ấy không chỉ đơn giản là vật che đầu mà còn ẩn một chiều sâu văn hoá rất nhân bản. Người Mường kể rằng: có một chàng trai nghèo tên là Khỏe ở mường Dậm yêu một cô gái con nhà lang xinh đẹp tên là Út Dô. Do khác biệt về kinh tế, địa vị nên đôi trẻ bị gia đình ngăn cản. Đôi trai tài gái sắc không lấy được nhau và dẫn đến một mối tình tuyệt vọng. Chàng Khoẻ để bảo vệ bản làng không bị thú dữ phá hoại nên đã tạm biệt người yêu đi vào trong rừng diệt hổ dữ. Sau nhiều ngày đánh nhau, chàng Khỏe đã ôm cả hai vợ chồng hổ nhảy xuống vực sâu ở núi Zang. Từ đó, dân Mường tránh được tai họa từ hổ. Cũng từ khi ấy, nỗi đau mất người yêu của nàng Út Dô chẳng thể nào nguôi ngoai. Ngày ngày, nàng Út Dô ra bờ suối, nơi chia tay với chàng Khỏe để ngóng đợi người tình. Út Dô lấy mảnh vải trắng của chàng Khỏe xé ra từ vạt áo tặng lại cho nàng lúc chia tay để lau nước mắt. Lạ thay, mỗi lần khỏa mảnh vải xuống suối Út Dô lại thấy hình ảnh của chàng Khỏe hiện lên. Mảnh vải ướt nên Út Dô vắt lên đầu cho nhanh khô. Rồi một đêm trăng sáng, nàng Út Dô đi theo tiếng gọi của tình yêu và hóa thân thành cây clang nở hoa trắng dọc hai bên suối. Và kể từ khi ấy tất cả phụ nữ Mường đều đội trên đầu một mảnh khăn trắng để tưởng nhớ mối tình của Út Dô và chàng Khỏe. Thế đấy, bao mùa trăng đã đi qua, con gái Mường từ đời này qua đời khác đều đội cái khăn trắng trên đầu và kể cho nhau nghe câu chuyện tình lãng mạn bi thương của đôi trai gái. Và cũng chẳng biết từ lúc nào chiếc khăn ấy đã trở thành một nét văn hóa, một phong tục riêng biệt, đặc sắc. Mảnh khăn trắng đội đầu của người phụ nữ Mường giống như chiếc khăn tang cho một mối tình nhưng có thể màu trắng của chiếc khăn cũng như màu trắng của những bông clang còn tượng trưng cho tấm lòng trong trắng, thủy chung của người con gái và cũng gợi lên những khát vọng về hạnh phúc lứa đôi.

 

Tác giả bên hồ nước ở Sào Báy, Kim Bôi

Cùng với cái khăn là bộ áo, váy của người phụ nữ Mường. Chiếc áo người Mường gọi là áo pắn. Áo này có đặc điểm là ống tay và lưng khá ngắn. Lưng áo dài khoảng hơn một gang tay, xẻ giữa ngực, không đơm cúc, không cài khuy. Khi mặc thì khoác bên ngoài chiếc yếm nên tạo một độ mở nhất định song rất kín đáo. Áo may liền vai, không có đường gân và có đủ các màu trắng, hồng hoặc vàng, xanh nhưng cơ bản là màu trắng. Áo pắn nổi bật trên nền đen của chiếc váy. Cái váy của người Mường được làm từ một mảnh vải cuộn thành ống dài từ nách xuống quá mắt cá chân, bao gồm phần đầu váy và phần ống váy. Phần đầu váy ở phía trên, còn được gọi là cạp váy. Phần này được tính từ hông lên. Cạp váy là bộ phận độc nhất có hoa văn trên toàn bộ trang phục của phụ nữ Mường. Phần ống váy ở phía dưới, từ hông trở xuống. Khi vận trang phục, cạp váy sẽ đè lên phần dưới của yếm, góp phần che chắn cho phần ngực kín đáo. Trong y phục của phụ nữ Mường, cái cạp váy không chỉ là một bộ phận của trang phục mà còn là nơi thể hiện những nét thẩm mỹ tinh tế trong nghệ thuật trang trí của các sơn nữ. Trên cái nền đen và trắng tương phản nhau của hai sắc màu chủ đạo trong bộ trang phục, cạp váy hiện lên một cách ấn tượng bất ngờ như thể giữa vùng giao thoa của ánh sáng và bóng tối. Với những sắc màu nguyên sơ không quá sặc sỡ, chuỗi hoa văn (hình động vật hoặc hình học với các màu trắng, đỏ, vàng, lục) có khi kết thành chuỗi, cũng có khi đan lồng vào lẫn nhau hoặc nối đuôi nhau nổi bật trên phần ngực của cô gái Mường. Cái cạp váy ấy cứ như vừa đảm nhiệm cái chức năng che kín vừa phô diễn, trang trí một cách đầy cuốn hút. Người phụ nữ Mường sắp xếp cạp váy khá cầu kì, chia thành ba phần. Phần trên cùng gọi là rang trên (rộng gần 20cm), hoa văn trang trí ở phần này là hoa văn hình học (hình thoi hoặc hình vuông). Rang trên có màu sắc chủ yếu là màu đen và trắng. Tiếp theo là rang dưới, được dệt với màu đỏ và vàng, nổi bật trên nền đen với hoa văn hình động vật như con rồng, con hươu (hươu đứng, hươu quỳ), con công, con phượng ... cùng các dải ngăn cách bằng hoa văn hình chong chóng. Phần cuối cùng của cạp nối với ống váy gọi là cao. Cao váy (rộng từ 10cm đến 15cm) được trang trí bằng các sọc màu to nhỏ khác nhau mang hoa văn hình học hoặc hoa văn hình cây cách điệu. Ống váy được khâu nối với phần cạp váy tạo thành một tấm vải (to gấp đôi thân người). Khi mặc người ta gập phần thừa về đằng trước. Với y phục này người phụ nữ Mường mỗi khi cất bước lên bậc cầu thang hay dạo bước trên đường, chiếc váy xập xoè theo nhịp bước nhìn rất uyển chuyển, hấp dẫn. Trang phục của phụ nữ dân tộc Mường không chói chang, rực rỡ sắc màu nhưng đạt tới sự trang nhã và hết sức tinh tế. Mới nhìn qua tưởng làm cạp váy đơn giản nhưng kỳ thực kỹ thuật dệt cạp váy rất khó, bao gồm nhiều khâu, thao tác phức tạp. Muốn có cạp váy đẹp đòi hỏi người làm phải có sự tinh tế và khéo léo. Bởi vậy, nhìn vào cạp váy người ta có thể đoán biết được sự tài hoa của người con gái Mường, chủ nhân của bộ trang phục. Có lẽ, khi xưa, chàng trai Mường khi kén vợ chắc hẳn cũng đã từng phải ngắm nhìn rất kỹ những cạp váy này đó chăng?

Một ngày mùa thu, nắng vàng tươi trải đẹp núi rừng, chúng tôi tìm về bên dòng sông Bôi và những con suối hiền hòa ôm ấp những thung lũng mướt xanh, chảy vòng dưới đồi đất lúp xúp xen cùng trập trùng núi đá ngày xưa. Trong bóng hoàng hôn, hòa theo tiếng mõ trâu và tiếng chim chiều, đâu đó, thấp thoáng ẩn hiện những gót hồng sơn cước đẹp vóc, xinh giòn trong những bộ trang phục trắng đen thướt tha mềm mại mà quyến rũ vô cùng. Thế mới thấy sức hút của đất mường vang vọng quanh năm.  
 
Đào Hiền
CHIA SẺ ĐẾN BẠN BÈ: