HOTLINE: 0904 89 4444

Biểu tượng con gà trống trong tang ca người Dao Tuyển
Biểu tượng (symbol) là một thuật ngữ được nhiều ngành khoa học, trong đó có ngành khoa học xã hội mà cụ thể là lĩnh vực nhân văn học, biểu tượng được sử dụng trong mỗi ngành khoa học lại mang những nội hàm khác nhau.
16:31 15-11-2017

Qua khảo sát các bài tang ca của người Dao Tuyển, chúng tôi thấy có rất nhiều biểu tượng xuất hiện trong tang ca của người Dao Tuyển như: Biểu tượng con gà trống, biểu tượng lửa, biểu tượng trống, kèn, biểu tượng hình nộm… song trong khuôn khổ của bài viết này chúng tôi chỉ đi sâu nghiên cứu biểu tượng con gà trống. Bởi biểu tượng con gà trống được người Dao Tuyển coi như một biểu tượng con vật linh, đồng thời cũng là một con vật gắn bó thân thiết với đời sống sinh hoạt của tộc người.

Biểu tượng (symbol) là một thuật ngữ được nhiều ngành khoa học, trong đó có ngành khoa học xã hội mà cụ thể là lĩnh vực nhân văn học, biểu tượng được sử dụng trong mỗi ngành khoa học lại mang những nội hàm khác nhau. Nghiên cứu về biểu tượng con gà trống trong văn hóa Dao nói chung và trong tang ca của người Dao Tuyển nói riêng được xem là khoảng đất trống, mênh mông, huyền bí chứa đựng nhiều bí ẩn. Trong thực tế, cũng như khi tìm hiểu tang ca của người Dao Tuyển chúng tôi thấy biểu tượng đã xuất hiện và phát triển cùng quá trình tiến hoá, lịch sử di cư của tộc người. Khởi nguyên của biểu tượng là “để chỉ dấu hiệu, sự vật dùng để nhận biết. Khi chia tay, người ta đập vỡ một vật thành hai mảnh, mỗi người cầm một mảnh để sau này làm dấu hiệu nhận ra nhau. Trong biểu tượng do đó có dấu vết của việc ghép lại các phần đối lập đúng như J. Chevalier nói: “Tự bản chất của biểu tượng, nó phá vỡ các khuôn khổ định sẵn và nó tập hợp các thái cực lại trong cùng một ý niệm””(1). Song qua nghiên cứu về tang ca của người Dao Tuyển chúng tôi thấy các biểu tượng xuất hiện trong các bài tang ca ấy thường là một khái niệm cụ thể dùng để chỉ một thực thể xuất hiện trong thực tế hoặc trong huyền thoại thường có hai mặt: một mặt tồn tại cảm tính trong hiện thực khách quan hoặc trong sự tưởng tượng của con người (cái biểu trưng) và mặt khác về ý nghĩa nó có mối quan hệ nội tại, tất yếu với mặt tồn tại cảm tính trong hiện thực khách quan nhưng quan hệ nội tại đó không bị rút gọn, chi phối trong những đặc điểm bản thể của sự tồn tại này (cái được biểu đạt).
 
Các bài tang ca của người Dao Tuyển ngoài việc cung cấp cho người đọc có một hình dung tương đối đầy đủ về thế giới quan thông qua hệ thống biểu tượng nghệ thuật có giá trị văn học, văn hóa cao của tộc người. Qua khảo sát các bài tang ca của người Dao Tuyển, chúng tôi thấy có rất nhiều biểu tượng xuất hiện trong tang ca của người Dao Tuyển như: Biểu tượng con gà trống, biểu tượng lửa, biểu tượng trống, kèn, biểu tượng hình nộm… song trong khuôn khổ của bài viết này chúng tôi chỉ đi sâu nghiên cứu biểu tượng con gà trống. Bởi biểu tượng con gà trống được người Dao Tuyển coi như một biểu tượng con vật linh, đồng thời cũng là một con vật gắn bó thân thiết với đời sống sinh hoạt của tộc người.
 
Người Dao Tuyển có câu tục ngữ “Chây sềng sâu kềng dắt” [Ghi theo lời ông  Đặng Văn Quang, sinh năm 1969, tại  Phong Hải, Bảo Thắng, Lào Cai] có nghĩa là “Gà trống đứng cửa chuồng”, ngoài ý nghĩa tả thực thì câu tục ngữ còn muốn nói đến vai trò, vị trí của chú gà trống trong đời sống sinh hoạt và đời sống tâm linh của người Dao Tuyển. Cũng theo lời ông Đặng Văn Quang thì “cửa chuồng” trong câu tục ngữ trên ngoài nghĩa tả thực là cửa nơi chuồng con gà quay về sau mỗi ngày đi kiếm ăn thì nó còn có nghĩa ẩn sâu đó là “muốn bước chân được vào thế giới tâm linh, vào vũ trụ thủa mới bắt đầu hình thành, nơi hồn người chết trú ngụ thì con gà trống sẽ là loài vật dẫn bước người Dao Tuyển đặt chân vào thế giới tâm linh và vũ trụ huyền bí đó”. Có lẽ đúng như vậy, bởi người Dao Tuyển cũng là một cư dân nông nghiệp, với nền sản xuất nhỏ lẻ, tự cung, tự cấp là chủ yếu, nên từ xưa đến nay con gà trở thành vật nuôi không thể thiếu mỗi gia đình người Dao Tuyển và quan trọng hơn trong các nghi lễ, đặc biệt là nghi lễ tang ma con gà trống luôn là vật để tế thần và dẫn linh hồn người chết về địa giới. Chính vì thế, con gà trống trong tâm thức người Dao Tuyển luôn gắn với ý niệm về nguồn gốc ra đời của vũ trụ và còn là vật trung gian truyền dẫn ý niệm giữa con người với thế giới thần linh.
 
1. Biểu tượng con gà trống: Ý niệm về nguồn gốc ra đời của vũ trụ
 
Con gà trống xuất hiện trong đời sống sinh hoạt và đời sống tâm linh của người Dao Tuyển từ bao giờ không ai biết chính xác, nhưng cho đến tận ngày nay trong dân gian vẫn lưu truyền trường ca Bàn Hộ nổi tiếng của người Dao nói chung và người Dao Tuyển nói riêng. Trường ca Bàn Hộ là một pho lịch sử của tộc người, không những vậy trường ca đó được người Dao nói chung và người Dao Tuyển nói riêng sử dụng hát trong nghi lễ tang ma, để đưa linh hồn người chết về nơi địa giới, rồi từ địa giới chờ con cháu phá ngục để về thiên giới đoàn tụ cùng với tổ tiên. Trong các bài tang ca ấy hình ảnh con gà trống xuất hiện với tư cách là loài vật giúp Ngọc Hoàng, Cao Vương phân chia trời đất thành thiên giới, trần giới và địa giới. Theo suốt chiều dài các câu tang ca ấy người đọc hình dung rõ nét vũ trụ của tộc người Dao Tuyển xuất hiện ra sao?
 
Vũ trụ trong tang ca của người Dao Tuyển bao gồm mọi thứ đang tồn tại, đã tồn tại và sẽ tồn tại. Vũ trụ trong tang ca của người Dao Tuyển là vũ trụ “hỗn độn, đen ngòm”(2), vũ trụ ấy được người Dao Tuyển đề cập đến ngay sau khi hát bài “Nhập quan ca” bởi theo người Dao Tuyển sau khi người chết làm lễ nhập quan, thân thể họ sẽ ở trong cõi“Cõi mê mờ mịt nghĩ nhiều điều/ Nhập nhằng không kể chẳng ai hay/ Muốn nói cùng các vị đàn anh để hiểu điều đó/ Cõi trần sinh sống vẫn còn những chuyện không hay/ Mờ mịt cõi âm, lạnh lẽo còn đó/ Kẻ hiện là âm, kẻ hiện là dương”(3).  “Cõi mê mờ mịt” được nhắc tới trong bài tang ca đó chính là vũ trụ thủa sơ khai, khi trời đất chưa được phân chia thành hai hai nửa trời – đất riêng biệt. Ở vũ trụ “hỗn độn, đen ngòm, cõi mê mờ mịt” ấy con người mơ ước “thông  quan” với thế giới thần linh và mong muốn thần linh giúp đỡ, dẫn dắt mình bước qua vùng tối tăm của vũ trụ. Bởi thế, thông qua những lời hát trong tang ca, người Dao Tuyển hôm nay hình dung rõ nét hơn về công lao của các vị thần (ma lành). Các vị thần ấy ngoài việc trợ giúp họ trong đời sống sinh hoạt còn giúp đỡ dẫn dắt linh hồn của người chết xuyên qua “vũ trụ hỗn mang thủa sơ khai” để đặt chân tới cầu Nại Hà, trở về với vũ trụ ba tầng, bốn thế giới như hiện nay. Từ đó những người Dao Tuyển xưa và nay sẽ có lối ứng xử phù hợp với thế giới thần linh trong vũ trụ đó. Đồng thời cũng cắt nghĩa, lý giải cho sự tồn tại của thể xác, linh hồn con người tồn tại ở thiên giới, trần giới và địa giới phù hợp với tín ngưỡng, quan niệm của tộc người về vũ trụ quan.
 
Sau khi hát bài Nhập quan ca để nhập quan cho người chết, thầy cúng chính sẽ hát bài ca Chế tạo trời đất, bài ca đó đã chỉ rõ cho linh hồn người chết biết ai là người tạo ra trời, tạo ra đất, tạo ra sông nước… để linh hồn người chết khi xuống âm phủ hay khi trở về trời với Ngọc Hoàng, Bàn Vương sẽ có lối ứng xử phù hợp với các thần đã có công chế tạo ra trời đất. Bên cạnh đó bài ca Chế tạo trời đất còn lý giải sự xuất hiện và đề cao vai trò của con gà trống, nó đã có công chia vũ trụ “hỗn độn, đen ngòm” thành hai thế giới trời – đất riêng biệt. Để rồi khi con người xuất hiện trong vũ trụ ấy thích ứng với thế giới tự nhiên thông qua tiếng gáy của con gà trống vào mỗi buổi sớm mai.
 
 Con gà trống được xuất hiện với nguồn gốc linh thiêng, điều này được lý giải cặn kẽ trong bài ca Chế tạo trời đất(4). Cao Vương, Bình Vương đã tạo ra trời, đất, sông, núi, cụ thể: “Cao Vương ở trời chế trời đất/ Bình Vương dưới đất chế lò canh(5)/ Chế được lò canh chỉ phương hướng/ Tạo được châu môn đối huyện môn”(6), song do trời đất khi đó vẫn ở trong trạng thái hỗn mang, là một vùng tối tăm, đất là một vùng bùn lầy, trời vì thế mà ẩm ướt theo, nên “châu môn, huyện môn” “không thấy một bóng người”. Cao Vương đã “Chế được mặt trời mười hai cái/ Phơi cho mặt đất được chóng khô/ Mặt trời trên trời dễ tạo được/ Tạo được thành người thời khó khăn”(7). Song cái khó là có tới “mười hai cái mặt trời” tranh nhau, đánh nhau chiếu rọi ánh nắng xuống mặt đất “Chỉ vì mặt trời đang đánh nhau/ Mặt trời đánh nhau tránh nước trời”(8), làm mặt đất khô cằn, nứt nẻ, con người bị sức nóng của mặt trời lan tỏa rất khó sống nổi. Khi không thể chịu nổi sức nóng của 12 mặt trời con người bèn kêu than với Ngọc Hoàng và Cao Vương. Để tránh phiền phức do mười hai mặt trời gây nên, Cao Vương (Nguyên niên) đã lệnh cho chú gà trống sống tại động Hồng và Thiên Lôi: “Hồng động Nguyên niên Lôi xuống đất/ Chương sư bắt được bỏ vào lao”(9) lôi mười hai mặt trời “bỏ vào lao”. Khi “Mười hai cái bị rơi đông lao quốc”(10) thì mặt đất và bầu trời lại trở về thủa “hỗn độn, đen ngòm”, con người lại sống trong “cõi mê mờ mịt”, đất dưới chân con người trở nên mềm nhão. Khi đó con người không tìm thấy đường lên trời họ bèn nhờ cóc  bởi “Con cóc là cậu ông trời/ Cóc cái là thím cả nhà trời”(11) cầu xin Ngọc Hoàng, Cao Vương để “Mặt trời lên cao chiếu xuống đất”(12). Ngọc Hoàng, Cao Vương  thấy cóc lên tận nơi gặp mình để xin cho mặt trời chiếu xuống đất, bèn lệnh cho “Gà trống đầu đội hoa mào gà”(13) đưa một mặt trời ra khỏi lao để con người “Nhìn thấy mặt trời chiếu khắp nơi”(14). 
 
Song có điều con gà trống cai quản mặt trời ở thiên giới, vạn vật và con người lại sinh sống ở trần giới, khi con gà trống đánh thức mặt trời dạy làm việc thì lúc đó con người và vạn vật ở tầng đất lại rất mệt mỏi, chân tay không thể cử động nổi, họ bèn đưa đơn và cử cóc lên kiện với Ngọc Hoàng. Ngọc Hoàng nghe xong bèn gọi Cao Vương đến bàn bạc và quyết định đưa con gà trống xuống trần gian để con người nuôi và làm nhiệm vụ gọi “Mặt trời mọc sớm trên đỉnh núi/ Một bên nắng chiếu, một bên không,/ Mặt trời chói chang rọi xuống đất/ Chiếu xuống mặt đất muôn vạn người”(15) theo lịch sinh hoạt của con người và vạn vật nơi mặt đất. Từ khi có gà trống làm nhiệm vụ đánh thức mặt trời theo sinh hoạt của con người nơi “châu long”, trời đất phân chia  ngày và đêm rõ ràng. Cứ khi nào gà trống cất tiếng gáy, thần mặt trời đang ngủ vùi cũng phải thức dậy, ló mặt ra cười với trần gian, con người khi đó bắt tay vào lao động sản xuất, khi con gà lên chuồng đi ngủ, mặt trời khuất sau rặng núi con người cũng nghỉ ngơi để bắt đầu công việc cho một ngày mới sắp tới.
 
Khi được đưa xuống trần gian con gà trống xuất  với hình ảnh rất đẹp, uy nghi như một vị thần trong thần thoại của các tộc người “Gà trống đầu đội thạch lưu hoa”(16). Nhưng con gà trống sống có một mình với loài người nó thấy buồn nên bèn xin Ngọc Hoàng, Cao Vương cho nó có thêm một con gà nữa để có bầu, có bạn như con người. Ngọc Hoàng, Cao Vương thấy có lý nên đồng ý ban cho nó một con gà mái và một đàn gà con với điều kiện tất cả những con gà trống trong đàn gà con đó ngoài việc đánh thức thần mặt trời thì phải là vật để cúng tế các thần. Gà trống thấy được sự ưu ái của Ngọc Hoàng, Cao Vương giành cho họ nhà gà nên nó luôn đánh thức thần mặt trời dạy đúng giờ để trời đất không bị rơi vào trạng thái hỗn mang như thủa sơ khai. Nó cũng ý thức được nhiệm vụ thiêng liêng mà Ngọc Hoàng và Cao Vương ban cho họ nhà gà đó là để làm vật tế lễ các thần trong tất cả các nghi lễ của người Dao nói chung và Dao Tuyển nói riêng, nên con gà trống luôn trau truốt mã của mình để khi làm vật tế thần nó có một thân hình đẹp, bởi nó coi đó là việc làm để trả ơn các vị thần đã cho nó xuống mặt đất sinh sống trong sự yêu thương, trân trọng của con người giành cho nó. Vì thế, ngày nay mỗi khi chọn gà trống để cúng tiễn trong các nghi lễ, nhất là nghi lễ tang ma, người Dao Tuyển thường chọn những con gà trống có mào “thạch lưu hoa” đỏ tươi, thần thái tốt, để làm vật cúng tế bởi như trong thần thoại của tộc người thì con gà chính là ý niệm về nguồn gốc ra đời của vũ trụ đồng thời nó còn là vật trung gian truyền dẫn ý niệm giữa con người với thế giới thần linh.
 
2. Biểu tượng con gà trống: Vật trung gian truyền dẫn ý niệm giữa con người với thế giới thần linh
 
Con gà trống từ khi xuất hiện nơi mặt đất tồn tại cùng với con người, nó trở thành loài vật thân thiết trong mỗi gia đình người Dao Tuyển và được Ngọc Hoàng, Cao Vương chọn làm loài vật để tế thần trọng mọi nghi lễ của người Dao Tuyển nên từ đó nó trở thành một biểu tượng thiêng trong  đời sống văn hóa, đời sống tâm linh của dân tộc Dao Tuyển từ xưa đến nay. Bởi “Đối với tất cả chúng ta thì hình mẫu, phương tiện, và các vật dụng thờ cúng đều đầy ắp tính trang nghiêm và sự lan tỏa đạo lý rộng khắp. Sự linh thiêng hàm chứa mọi nơi đều có ý nghĩa về bổn phận của nó: đó không chỉ là sự sùng bái mà còn là nhu cầu tự thân; nó không chỉ mang lại sự đồng thuận trí tuệ mà còn củng cố tận tụy về phương diện tình cảm” (17). Trong nghi lễ tang ma của người Dao Tuyển con gà trống là lễ vật không bao giờ được phép thiếu khi thực hành các nghi lễ cúng tế.
 
Có thể nói con gà trống là một “con vật thiêng”, bởi nó làm nhiệm vụ đưa đón các vị thần về thực hành nghi lễ đồng thời dẫn hồn người chết trở về nơi ở mới “Đưa đến âm ty đời yên ổn/ Quan tài trăm dạng Đạo nhân đưa”(18) và là con vật trung gian truyền dẫn ý niệm giữa con người (cụ thể là các thầy cúng) với thế giới thần linh. Điều này được thể hiện rõ trong cả nghi lễ làm ma tươi và nghi lễ làm ma khô. Ngay sau khi gia đình có người chết, người con cả trong gia đình sẽ mang một con gà trống đến nhà thầy cúng để mời thầy đến gia đình thực hành nghi lễ tang ma và đối thoại với các vị thần. Theo lời ông Lý Vần Sẩu, một thầy cúng được xếp vào bậc sư phụ của người Dao Tuyển [sinh năm 1945, tại Bản Lầu, Pạc Po, Mường Khương,  Lào Cai] cho chúng tôi biết: “Các thầy cúng muốn đối thoại được với các vị thần trong các nghi lễ tang ma thì khi người con trai trưởng của người chết mang con gà trống đến, nếu thầy nhận sẽ giúp gia đình thực hành nghi lễ tang ma. Thì sau khi nhận con gà trống xong, thầy cúng sẽ tự tay cắt tiết con gà trống đó, lấy bát tiết, cùng gan, tim con gà (theo quan niệm của người Dao Tuyển, tiết gà là huyết mạch của thần ban cho vạt vật, gan gà là cha, tim gà là mẹ), cả ba loại đó đều để sống không được luộc chín, thắp hương xin các thần theo trợ giúp thầy cúng để họ có thể “thông quan” với thế giới thần linh”. Bắt đầu từ khi thầy cúng cắt tiết gà mời thần, con gà trống sẽ là vật trung gian truyền dẫn ý niệm giữa thầy cúng với thế giới thần linh trong suốt quá trình thực hành nghi lễ tang ma, cụ thể như sau:

Thứ nhất: Trong nghi lễ làm ma tươi của người Dao Tuyển, khi thầy cúng chính đến thực hiện nghi lễ nhập quan thầy sẽ hát: “Đưa hồn đến thần xã/ Gà nhìn nguyệt ba canh/ Người ở nơi huyên náo/ Khi về náo loạn rừng”(19), cũng theo ông Lý Vần Sẩu chúng tôi biết được “vào lúc canh ba, con gà trống sẽ làm nhiệm vụ đưa hồn người chết đến gặp các ma canh cửa nơi địa giới. Tại nơi đó con gà trống sẽ gáy 3 hồi liên tục, nghe tiếng gà gáy, các ma canh cửa sẽ mở cửa ngục để con gà trống báo với ma canh cửa vào giờ này, ngày này, hồn của người này sẽ có mặt tại cửa ngục các ma canh cửa làm lễ nhập tên cho hồn người chết”. Sau khi con gà trống đã đối thoại xong với các ma canh cửa, nó sẽ dẫn hồn người chết quay trở lại không gian quan tài, ở đó thầy cúng chính sẽ hát “Bước sai, tôi bước sai/ Giống như gà rừng bay tứ tung/ Gà rừng bay lạc còn về được/ Lỡ bước Dương Châu khó trở về/ Vào làng Đại Động mời thầy giỏi/ Bảo động là nơi mời pháp sư/ Mời được pháp sư hoàn lương nguyện/ Nửa múa nửa nhảy lại bước đi,/ Thôn trên giơ tay đón thần về/ Thôn dưới giơ tay vẫy thần đến”(20). Con gà trống sau khi đưa hồn đi gặp các ma canh cửa trở về, nó lại được các thầy cúng sai đi mời các thần, ngoài việc dùng gà trống để dâng lễ, để chuyển ý, để làm vật trung gian giữa con người với các thần  thì con gà trống còn được dùng để làm “Tài mã, tài lầu trăm thức đủ/ Tài mã, tài lầu trăm thức tốt/ Đưa đến tận cửa trăm thứ ngon/ Gia tiên gia thần được thu nhận”(21). Có nghĩa là, con gà trống lúc này trở thành một con “Tài mã” (ngựa vía) đến đón các vị thần cư trú tại Dương Châu về trợ giúp các thầy cúng trong việc thực hành nghi lễ.
 
Thứ hai: Trong nghi lễ hạ huyệt, trước khi hạ quan tài người chết xuống huyệt, thầy cúng chính đặt một con gà trống đã được luộc chín xuống đáy huyệt và hát rằng: “Chu nhốt hò phản mừn thìn sâu/ Chả chả dang thai sâu mừn thìn/ Sặp nhột hồ phản thỉm thầy qua/ Tòng tin thẩy cắn răm pẩy gầy” dịch thơ: “Ban cho ân mới, đường tiến hóa/ Hương khói chẳng ngơi, người người nhờ/ Chai tiếu mỗi phương đám hát đạt/ Cửa tử hoàn sinh mọi xứ truyền”(22). Lời bài hát chính là lời thầy cúng chính nhờ con gà trống đang được đặt ở dưới huyệt mộ, nói với vị thần cai quản nơi đất này, hãy mở cửa nơi đất mẹ để ôm đứa con nơi trần gian vào lòng và hãy rộng lòng mở “đường tiến hóa” để linh hồn người chết có thể đến “Cửa tử hoàn sinh mọi xứ truyền”. Theo quan niệm của người Dao Tuyển thì khu đất ở nơi phần mộ của người chết, là do các thần nơi địa giới cai quản, các thầy cúng không thể đối thoại trực tiếp được với các thần nơi địa giới bởi âm khi nặng, chính vì thế trong nghi lễ này, con gà trống gánh trách nhiệm rất nặng nề vừa phải đối thoại để truyền dẫn ý niệm giữa thầy cúng với các thần lại vừa phải làm nhiệm vụ của một con ngựa vía đưa người chết qua sông, qua đò xuống nơi địa giới, cụ thể như sau: “Nhui mạ xếm ón thăn xôổng làu/ Cốn tou cái rền cốn dạ mạ/ Mạ tou hong rền mạ thou ròng/ Trắm nhắt ghì mạ nhằm nị óc/ Mành xíu ba than vôồng tháy phấy”, tạm dịch: Ngựa cưỡi chắc yên chạy như rồng/ Quan đến bên chợ quan xuống ngựa/ Ngựa vào chốn đông vui ăn cỏ/ Hôm nay cưỡi ngựa đến nhà anh/ Sáng mai tan hội bay về tây (phương tây)(23). Đồng thời từ nơi địa giới ấy, con gà trống (lúc này là con ngựa) sẽ tiếp tục đưa “quan” (người chết) về phía tây – phía mặt trời lặn, bởi với người Dao khi cấp sắc có nghĩa là khi con người được sinh ra cả về thể xác lẫn linh hồn nên trong nghi lễ cấp sắc tất cả mọi nghi lễ đều được thực hành quay về hướng Đông còn khi chết, kết thúc cuộc sống của phần xác thì mọi nghi lễ được thực hành quay về hướng tây. Hướng tây cũng chính là hướng đưa con người ta trở về vũ trụ “hỗn độn, đen ngòm” của vũ trụ quan trong tang ma người Dao Tuyển.
 
Thứ ba: Trong nghi lễ đưa hồn người chết về nơi ở mới, sau khi hạ huyệt, con cháu chia của cho người chết, khi nghi lễ chia của kết thúc là lúc cộng đồng làng bản nắm đất thả xuống huyệt với mục đích mỗi người một chân một tay, giúp người chết xây nhà ở nơi ở mới. Khi lấp đất kín quan tài, thầy cúng lấy con gà trống còn sống được người con cả mang theo khi đưa ma, thầy sẽ hát“Phúng chiền môi khiếu tháo chiền cha/ Phúng tháo chiền cha chiền ố đía/ Chiếu miền mạn phúi shuất liều lá/ Pe chới liềm liềm dịa tây phâu/ Mợi chiàng púng khuýa siu pè chới/ Súi lủi pến chiàng diêm sính châu”, dịch thơ: “Đưa ma trở về đến nhà ma/ Đưa đến nhà ma đưa đến cổng/ Để chủ nhà ngàn năm bình an/ Giấy trắng xuống đất đốt cho ma/ Chưa đốt thì ma chưa được tiền/ Đốt rồi trở thành tiền của ma”[Ghi theo lời thầy cúng bậc sư phụ Phàn Văn Phà, sinh 1932, tại Thái Niên,  Bảo Thắng,  Lào Cai]. Đồng thời thầy thả con gà trống ra khỏi lồng, khi thả thầy cúng nói “Hãy cho con cháu biết linh hồn của người chết khi chưa được chuộc tội trú ngụ ở hướng nào, để sau này chúng nó còn biết hướng mà đi tìm”, nói xong thầy cúng chính thả con gà con gà trống ra, con gà chạy về hướng nào khi con cháu làm lễ ma khô cho người chết họ sẽ hướng về phương đó để chuộc tội, phá ngục đón linh hồn người chết về đoàn tụ với tổ tiên, qua đó chúng ta có thể thấy “phương tiện trung gian sẽ bắt đầu có tác động tới thông điệp”(24).
 
Thứ tư: Sau khi đắp xong phần mộ cho người chết, thầy cúng chính sẽ lấy con gà trống còn sống thứ hai đem đặt trước phần mộ của người chết hát rằng: “Tống thần đi/ Tống thần về đến Dương Châu/ Tống thần về tới Dương Châu miếu/ Trước miếu ngựa xe đi dập dìu/ Lúc đến cũng nhớ, về cũng nhớ/ Lúc đến dễ dàng, và khó khăn/ Chẻ trúc đan lồng để nhốt gà,/ Gà con cầu cứu thả cho bay/ Ngày mai trời sáng thì tan hội,/ Mở lồng thả gà bay khắp nơi/ Tống thần đi”(25). Lời bài hát cũng là lời của thầy cúng giao nhiệm vụ cho con gà trống sẽ thay con người thanh toán tiền công cho các thần và đưa các thần về lại nơi ở của các thần. Đồng thời các thầy cúng cũng nhắc nhở con gà trống “Ngày mai trời sáng thì tan hội” nó sẽ không được quên nhiệm vụ đánh thức mặt trời thức dậy, muốn làm được như vậy khi tiễn các thần nó phải đi nhanh, về nhanh để không bị muộn giờ.
 
Vì con gà trống là loài vật được thần linh tín nhiệm, là vật trung gian truyền dẫn ý niệm giữa con người và thế giới thần linh, đồng thời nó các thần giao phó nhiệm vụ gọi thần mặt trời thức dậy, xua đuổi bóng đêm, xua đuổi những tà ma luôn ẩn khuất trong đêm tối để làm hại con người. Với ý nghĩa đó những người đàn ông người Dao Tuyển sau khi thực hiện nghi lễ cấp sắc, được cấp ấn tín, cấp âm dương điệp sớ họ sẽ được sư phụ của mình cấp cho một mũ đội đầu hình mào con gà trống. Mũ đó sẽ được những người đàn ông Dao Tuyển đội trong những nghi lễ quan trọng của làng bản và gia đình, bởi người Dao Tuyển cho rằng khi họ đội chiếc mũ mào gà đó có nghĩa họ được sự chở che của Cao Vương, của Ngọc Hoàng. Họ sẽ là sứ thần thay Ngọc Hoàng, Cao Vương trừ bỏ cái ác, cái xấu giúp cộng đồng làng bản người Dao Tuyển có được cuộc sống bình yên. Chính vì nó là vật trung gian để truyền dẫn ý niệm nên con gà trống đã được người Dao Tuyển thiêng liêng hóa và trở thành biểu tượng linh thiêng trong các lễ thức quan trọng của tộc người.

Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, người Dao Tuyển ngày nay ở mọi miền tổ quốc vẫn luôn coi con gà trống là “vật thiêng”. Bởi người Dao Tuyển cũng như các tộc người khác không thể loại bỏ được giống  gà ra khỏi đời sống sinh hoạt cũng như đời sống tâm linh của mình. Gà trong tâm thức dân gian của tộc người, ngoài việc là nguồn cung cấp thực phẩm thì nó còn biểu trưng cho đức tính cao quý của con người đồng thời biểu tượng cho nguồn gốc ra đời của vũ trụ, là loài vật trung gian truyền dẫn ý niệm giữa thế giới con người với thế giới thần linh. Con gà trống đã trở thành biểu tượng thiêng theo suốt chiều dài lịch sử của tộc người, in sâu vào tâm thức của tộc người như một sự tất yếu khách quan. Mà quả nhiên là vậy, tiếng gà gáy sáng đánh thức ông mặt trời ở các bản làng định cư của người Dao Tuyển đã trở nên quen thuộc biết bao. Tiếng gà ấy báo hiệu một ngày mới tươi sáng đang đến và mang lại cuộc sống ấm no nơi mỗi làng bản người Dao Tuyển đang sống cheo leo nơi lưng chừng núi, đồng thời tiếng gà gáy ấy cũng nhắc nhở người Dao Tuyển nhớ đến tổ tiên mình đang sinh sống tại Dương Châu.
 
(1)  Trịnh Bá Đĩnh (Chủ biên) (2017): Từ kí hiệu đến biểu tượng, Nxb. Khoa học xã hội, H., tr.28
 
(2) Trần Hữu Sơn: Những bài ca giáo lý của người Dao, Nxb. Văn hóa dân tộc, H., 2009, tr. 371.                                  
 
(3) Trần Hữu Sơn: Những bài ca giáo lý của người Dao, Nxb. Văn hóa dân tộc, H., 2009, tr. 371.  
 
(4) (6) (7) (8) (9) (10) (11) (12) (13) (14) (15) (16) Triệu Hữu Lý: “Chế tạo trời đất”, Bàn Hộ trường ca dân tộc Dao, Nxb. Văn hóa, H., 1982, tr.29, 30, 31, 32, 33.
 
(5) Lò canh là cái địa bàn.
 
(17) (24) Đinh Hồng Hải: Nghiên cứu biểu tượng – một số hướng tiếp cận lý thuyết, Nxb. Thế giới, H., 2014, tr.240, 241, 407.
 
(18) (21)(23) Trần Hữu Sơn: “Bài ca phá ngục”, Thơ ca dân gian người Dao Tuyển (Song ngữ Việt – Dao), Nxb. Thời đại, H., tr.120.
 
(19) (22) Trần Hữu Sơn: “Coóc truy sâu”, Những bài ca giáo lý của người Dao, Nxb. Văn hóa dân tộc, H., 2009, tr.437, 565, 97.
 
(20)(25) Triệu Hữu Lý: “Chặt cây đóng thuyền”, Bàn Hộ trường ca dân tộc Dao, Nxb. Văn hóa, H., 1982, tr.62, 63, 64.
 
Bàn Thị Quỳnh Giao
CHIA SẺ ĐẾN BẠN BÈ: