HOTLINE: 0904 89 4444

Nghệ thuật trình diễn nghi lễ Then của người Tày ở Bắc Sơn
(Phương Nam Plus) - Then là hình thức sinh hoạt văn hóa tâm linh không thể thiếu trong đời sống văn hóa của một số tộc người. Đối với người Tày, nghi lễ then thường được thày cúng thực hiện trong lễ giải hạn (chữa bệnh), cầu an, chúc thọ, chúc tụng, đặc biệt là các đại lễ lẩu then như cấp sắc, tăng sắc, cáo lão...
15:29 04-07-2019
Trong không gian diễn xướng thiêng liêng, nghi lễ then luôn có sự kết hợp hài hòa giữa âm nhạc, múa, diễn xuất... Sự tham gia của những thành tố nghệ thuật trong nghi lễ đã góp phần bảo lưu các giá trị văn hóa nghệ thuật cổ truyền của người Tày.
 

1. Thành tố văn học trong then

Trong nghệ thuật trình diễn nghi lễ then, yếu tố văn học có vai trò quan trọng trong việc chuyển tải nội dung, độ dài ngắn tùy thuộc đường đi, mục đích nghi lễ.
 
Nội dung của mỗi bài then miêu tả chặng đường đoàn âm binh đi hành lễ (lên mường trời, xuống thủy phủ…). Phần mở đầu, các nghi thức sỉnh say, trình tổ (trình báo, mời tổ tiên) cho biết xã hội người Tày lúc này chưa có giai cấp. Khi cuộc hành lễ bắt đầu đến đoạn khái pắt ngoàng, khái lọng sluông (sai đi bắt ve sầu, sai đi gọi đò)… thì sự phân hóa giai cấp đã được bộc lộ.
 
Những cảnh vật thiên nhiên sinh hoạt đời thường được thể hiện trong then chỉ là cái cớ để dẫn dắt, bộc lộ cảm xúc, tâm trạng của con người nhằm làm nổi bật yếu tố trữ tình. Đó là tình yêu quê hương, gia đình, đôi lứa... phù hợp với quan niệm sống, tình cảm riêng của người Tày. Trong Thuyền suông dọn thuyền Nặm Kim có đoạn: “Vào ăn trầu với em hãy đi/ Cám ơn nàng xe dây thiếu nữ/ Anh hãy còn công sự việc quan/ Không dám ăn trầu cau cùng nàng...” (1).
 
Tính trữ tình còn thể hiện tinh thần lạc quan trong cuộc sống lao động, cảnh núi rừng, sông suối quen thuộc, gần gũi hay những chốn thần tiên với hoa thơm, chim hót gợi lên ước vọng về cuộc sống lý tưởng trên thế gian: “Tiên nữ nàng cười vang mới nói/ Em là tiên trời cả minh nga” (2)...
 
Về hình thức thể hiện, các yếu tố lời thơ, giai điệu hát, nhạc đệm trong then có quan hệ chặt chẽ với nhau. Theo tác giả Dương Kim Bội, một văn bản then dài nhất gồm 4.949 câu với 35 chương đoạn (3), trong đó, mỗi chương mang một tiêu đề riêng. Lời ca trong then diễn tả cuộc hành trình của đoàn quân then nên biểu hiện rất rõ tính tự sự. Hầu hết các chương, đoạn đều có cốt truyện gắn với một sự tích, thường người xem thuộc lòng các tích truyện dân gian này. Lời ca trong then chủ yếu sử dụng lối thơ bảy chữ, trong đó chữ thứ bảy của câu trên vần với chữ thứ năm của câu dưới, biến chuyển một cách nhịp nhàng không cứng nhắc, khô khan.
 
2. Thành tố múa trong then
 
Múa trong then phụ họa cùng lời ca để diễn đạt nội dung của nghi lễ, chủ yếu xuất hiện trong các đại lễ. Thành tố nghệ thuật múa từng được tác giả Lê Ngọc Canh đề cập đến như một loại hình nghệ thuật không thể thiếu trong các nghi lễ, tín ngưỡng của người Tày. Múa then với sự phong phú, độc đáo luôn gắn liền với các đạo cụ (đàn tính, xóc nhạc, quạt)... Đặc biệt, các động tác luôn gắn liền với sự chuyển động và lời ca của thày then (4). Tác giả Lâm Tô Lộc mô tả: “Múa then phong phú về hình thức thể hiện: múa một người, bốn người, sáu người, đông người. Đội hình thường đăng đối, điệu múa ngắn gọn, tuyến múa bị hạn chế vì hầu như múa tại chỗ” (5).
 
Trong nghệ thuật trình diễn nghi lễ then, đội hình múa thường đơn giản nhưng mang phong cách độc đáo. Nhà nghiên cứu Mai Hương đã lý giải tư thế tay và chân trong múa then: Nếu cảm giác nhún phần chân là phản ánh bản chất chắc khỏe của người lao động thì phần tay là phản ánh tâm hồn, ước muốn bay lên... (6). Chính sự tương phản trong động tác múa ở phần tay và phần chân cũng là điểm hấp dẫn, thú vị trong múa then bởi người xem luôn có cảm giác về sự đè nén, khát vọng muốn phản kháng, giải phóng của con người.
 
Trong múa then, múa chầu là điệu múa chính, thông dụng nhất. Các động tác múa chầu quạt, chầu lăn, chầu nhạc, chầu tướng cần từ 1 - 6 người. Người múa chầu vừa xóc nhạc vừa múa với động tác mang tính chất tôn kính. Điểm đặc biệt trong múa chầu là phạm vi di chuyển rất ít, chủ yếu là đứng tại chỗ bởi không gian bó hẹp trong chiếc chiếu, xung quanh mâm cúng. Các động tác múa chính thường lặp đi lặp lại: nếu ngồi thì thường lắc lư, quay người hoặc dướn lên, cúi xuống; nếu đứng thường nhún nhảy, chéo chân.
 
Ở mỗi vùng, then đều có các bản nhạc lưu không riêng để đệm cho múa chầu. Trình tự múa chầu thường diễn ra như sau: múa vái lạy, múa soát lễ, múa xuyên, múa chầu vái tạ. Thày then giữ vai trò điều khiển toàn bộ cuộc múa. Loại bỏ đi những yếu tố mang tính huyền bí, mê tín dị đoan thì cuộc múa chầu là một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng mang tính nghệ thuật, tạo nên sức lôi cuốn, thu hút, có vai trò rất quan trọng trong việc kết nối cộng đồng.
 
Đạo cụ trong múa then tuy không nhiều nhưng lại được biểu hiện rất đa dạng. Trong cuộc lẩu then trung lễ ở làng Nà Giàng, Bắc Sơn, ba nghệ nhân then dùng quạt thể hiện động tác chèo đò kết hợp với đánh đàn rất đều đặn, nhịp nhàng. Chiếc quạt được xem là vật dụng nhằm phân cách giữa phần âm, phần dương nên có tính ước lệ cao. Khi bà then xòe mạnh chiếc quạt ra che mặt tức là hồn hoặc đấng bề trên hiện về. Khi múa then, cây tính tẩu được dùng để tạo ra âm thanh, nhịp điệu nhưng cũng kết hợp với động tác múa để lượn trên đầu hay chao xuống hai bên cạnh sườn. Chùm xóc nhạc dùng để xóc tạo nhịp, kết hợp với tấm khăn màu hồng trong khi múa. Người thực hành nghi lễ then tay trái cầm khăn, tay phải cầm chùm xóc nhạc, trong khi múa dùng khăn để hứng chùm xóc nhạc. Khăn, chùm xóc nhạc luôn đổi tư thế cho nhau theo nhịp nảy của chân, tay tạo nên những âm thanh rộn rã. Căn cứ vào tính chất, nội dung, động tác múa... có thể chia làm ba loại: múa kiểm tra lễ vật trước cuộc hành trình dâng lên Ngọc Hoàng như: múa quang cầu, múa cẩm thế; múa dâng lễ vật như: múa gươm, các loại múa chầu; múa phục vụ, mua vui chúc tụng cho vua, chúa như: múa quần ngựa, múa khăn (7).
 
3. Thành tố mỹ thuật trong then
 
Yếu tố mỹ thuật không chỉ tạo nên không gian huyền ảo, mà còn mang những giá trị thẩm mỹ, tâm linh riêng. Biểu tượng con én không thể thiếu khi trang trí bàn thờ, mũ của thày then, bởi nó là loài chim thiêng, cầu nối giữa cõi người với chốn thần linh, tiên tổ.
 
Nghệ thuật trang trí trong then gồm có trang trí trong nghi lễ (bàn thờ, lễ vật, không gian) và trên trang phục, đạo cụ. Không gian tiến hành buổi lễ được trang trí chủ yếu bằng giấy màu cắt dán rất công phu. Vào thời điểm tiến hành nghi lễ, nhiều tấm thảm, chăn được treo lên như những bức vách nhằm giới hạn không gian. Trên mâm lễ trang trí những cây hoa năm cánh được làm bằng giấy kim tiền, cắm trên khúc thân chuối. Ở mâm chay có những vật trang trí như hình người, quần áo, lọng che, bó củi, cây hoa, cầu đón vía được cắt bằng giấy màu xanh, đỏ...
 
Áo trong nghi lễ then là loại áo dài của phụ nữ Tày, có nhiều màu như chàm, đỏ, xanh, vàng, tím, trắng để mặc trong mỗi chương, đoạn khác nhau. Áo lễ của then thường không trang trí hoa văn cầu kỳ như áo trong nghi lễ lên đồng của người Kinh, được mặc chung cho cả then nam và nữ.
 
Mũ lễ là loại mũ tam kim, gồm 2 mảnh bìa cứng bọc bằng vải màu chàm hoặc màu đen. Khi gấp lại, mũ hình tứ giác cân, phía bên trên mũ là ba điểm nhọn, trong đó phần nhọn ở giữa cao hơn một chút. Trước mũ đính hai sợi tua bằng vải màu hình lệnh bài rủ xuống hai bên, phía sau được gắn những sợi dây dài thêu hoa văn hình chim, phượng… hoặc ghép vải nhiều màu. Mũ lễ có quy định sử dụng riêng, chỉ dùng trong những buổi lễ lớn, có đón thánh tướng xuống, chỉ kết hợp với áo lễ màu vàng, đỏ mà không bao giờ kết hợp với áo tím, đen.
 
Bên cạnh đó, đạo cụ cũng là thành phần không thể thiếu trong mỗi cuộc then, gồm: ấn, tính tẩu, bộ xóc nhạc, bộ gieo quẻ âm dương, chuông. Trong đó, ấn được làm bằng kim loại (đồng, bạc nhôm) hình vuông có chiều dài mỗi cạnh khoảng 5 cm. Ấn then gồm 4 loại: ấn Ngũ Lôi chuyên dùng để trừ ma, đuổi tà; ấn Tam Bảo khi then qua các cửa đều phải trình; ấn Ngọc Hoàng được dùng trong các đại lễ lẩu then hoặc đám tang người làm nghề cúng bái; ấn Tổ Sư dùng làm lễ cho những gia đình có người làm nghề cúng bái.
 
Tính tẩu là nhạc cụ giúp then giao tiếp với thần linh, gồm hộp đàn, mặt đàn, cần đàn, đầu đàn, ngựa đàn, dây đàn, dây đeo. Hộp đàn hình tròn có đường kính khoảng 20cm, chiều cao khoảng 15cm, được làm bằng đồng (trước đây làm bằng quả bầu già khô). Xung quanh bầu đàn, gần sát phía mặt đàn được khoét nhiều lỗ thoát âm. Mặt đàn được làm bằng các loại gỗ dai, xốp, không có sẹo, được bào nhẵn và có độ dày khoảng 0,3cm. Cần đàn được làm bằng những loại gỗ nhẹ, mịn thớ, có chiều dài tùy thuộc vào người sử dụng (thường của nữ dài 0,65cm, nam dài 0,75cm). Cần đàn nhẵn, trơn, không có phím và trên đầu cần đàn được trang trí những tua vải màu xanh, đỏ. Đầu đàn nối liền với cần đàn và thường được chạm trổ hình đầu rồng, đầu hổ, hoa chuối, lệnh bài… Ngựa đàn là miếng gỗ nhỏ hình thang có chiều rộng khoảng 1,5 - 4cm, phía dưới được khoét hình tròn tạo cho ngựa đàn luôn áp sát chính giữa mặt đàn tạo nên sự cân đối, chấn rung rất tốt. Dây đeo đàn được trang trí bằng họa tiết hình quả trám.
 
Bộ xóc nhạc được làm bằng đồng đỏ hoặc vàng, gồm nhiều chuỗi gộp lại, mỗi chuỗi có các vòng tròn nhỏ, đường kính khoảng 2cm. Bộ xóc nhạc có từ 3 - 12 chuỗi, thường được đựng trong túi có đầu buộc rút, trên miệng túi thêu chỉ màu, kim tuyến hình hoa móc, điểm thêm kiểu hoa hồi 8 cánh tạo nên nét đặc trưng riêng về đạo cụ của mỗi thày then.
 
Bộ gieo quẻ âm dương gồm hai miếng gỗ được tách đôi từ cùng một đoạn trúc hoặc tre và được đẽo gọt nhẵn nhụi, dài 6cm, rộng 2cm, sơn màu đen bóng.
 
Chuông có cấu tạo đơn giản, được đúc bằng đồng, trong bụng không treo con lắc. Để tạo tiếng kêu, người ta dùng một thanh nhỏ bằng đồng gõ vào thân chuông. Chuông then ở Bắc Sơn cao khoảng 8cm, đường kính 6cm, không sử dụng trong khi múa. Chuông trong then dùng rất ít nhưng lại là nhạc cụ quan trọng bởi nó được sử dụng ngay từ đầu cuộc then, đầu của một chương đoạn với mục đích báo hiệu, xin phép tổ tiên bắt đầu cuộc then. Ngoài ra, đạo cụ trong then còn có chiêng, quạt nhưng chúng không có nhiều yếu tố trang trí.
 
4. Thành tố âm nhạc trong then
 
Trong nghi lễ then, lời ca có vai trò chỉ đường dẫn lối cho người xem biết từng hoạt cảnh, chương đoạn đang diễn ra. Nhưng khi trình diễn, người làm then không phân chia tách bạch giữa các chương đoạn, chúng nối tiếp nhau một cách liên tục cho tới khi hết bài bản nội dung một cuộc then. Âm nhạc còn thể hiện vai trò khác như: báo hiệu để chuẩn bị, dẫn dắt cho then vào câu hát; giữ nhịp, tạo giai điệu, kết nối giữa các câu hát hoặc kết thúc từng đoạn hát, chuẩn bị cho phần hát tiếp theo hoặc ngưng nghỉ.
 
Âm nhạc trong then có sự ảnh hưởng, tiếp thu các làn điệu dân ca ở từng địa phương tạo nên sự đa dạng về màu sắc, khúc thức và tiết tấu. Âm nhạc trong then còn có sự giao lưu, tiếp thu, cải biên phù hợp với nội dung lời ca và quá trình phóng tác của người làm then. Ở những cuộc đại lễ then gồm nhiều người cùng hát, đàn, múa thì âm nhạc gồm cả nhạc hát, nhạc đệm, nhạc múa, nhạc không lời. Âm nhạc của then mang tính chất êm dịu, ấm cúng, nhẹ nhàng, tâm tình, an ủi. Giai điệu thường được diễn tả theo bước lần với sắc thái vừa phải, không mạnh quá tầm cữ, âm nhạc không lên cao xuống thấp quá, gần với lời tâm sự, tri kỷ... (8). Lời ca trong then thường sử dụng thể thơ 7 chữ, chữ thứ bảy câu trên gieo vần với chữ thứ năm của câu dưới.
 
Âm nhạc trong then Tày là sự kết hợp giữa lời ca và giai điệu. Lời ca trong then có cốt truyện dài, ngắn khác nhau nên nhiều khi giai điệu kết thúc không trọn vẹn mà thay đổi phụ thuộc vào lời ca. Đặc điểm lời ca chịu tác động bởi ngôn ngữ đơn âm và đa thanh trong tiếng Tày, tạo nên sự trầm bổng nhất định, ảnh hưởng không nhỏ đến cấu trúc câu, đoạn của âm nhạc.  Trong then, phổ biến là dạng hát mang tính chất giãi bày, tâm tình nên mỗi vần thơ có thể được vang lên với nhiều âm sắc khác nhau. Đó là hiện tượng vuốt giọng, láy giọng, hoặc hỗ trợ bằng tiếng đưa hơi (9). Chính vì điều này mà nghệ nhân then thường kết hợp nhiều làn điệu để có thể đệm đàn hòa âm với lời ca cho đỡ đơn điệu.
 
Ở Bắc Sơn, người làm then gọi tên điệu theo nội dung của chương đoạn như: tò mạy, khách, khảm hải, tàng nặm, tàng bốc, khẩu tu vua, pây tàng, pây mạ, khỏa quan, khao sluông, puốc vong, khẩu tu đẳm, múa chầu… Do đặc điểm âm nhạc trong then là chất trữ tình, nhẹ nhàng, đầm ấm nên hình thái âm điệu phổ biến, đặc trưng trong hầu hết các làn điệu là hình thái âm điệu sử dụng nhiều nốt dựa (dạng nốt dựa ngắn)... âm điệu gồm ba nốt nhạc, trong đó hai nốt dựa ngắn cách nhau một quãng 2, nốt đầu đứng trước cách nốt nhạc chính một quãng 2, 3 hoặc đồng âm, láy từ dưới láy lên, từ trên xuống hoặc lên rồi lại xuống, tạo cho giai điệu mềm mại, uyển chuyển và giàu sức biểu cảm (10).
 
Sự kết hợp của các loại hình đàn, hát, múa, trò diễn... biểu hiện nhịp điệu khác nhau ở mỗi cuộc then. Đối với những chương, đoạn hát, bài bản liên quan đến việc cầu cúng, trình báo như xỉnh đẳm, khẩu tu vua (trình tổ tiên, vào cửa vua)... thường có giọng điệu từ tốn nên nhịp thường đều đều, chậm rãi, nghiêm trang. Ngược lại, đoạn khảm hải (vượt biển) trong lẩu then thường sôi nổi, hoạt náo. Trong đoạn này, người làm then vừa hát, vừa đánh đàn, một số người vừa múa, vừa xóc nhạc mô phỏng động tác như chèo thuyền, kéo dây chống chọi với sông nước trên biển khơi...
 
5. Trò diễn trong then
 
Trò diễn chủ yếu tác động lớn đến yếu tố tâm linh trong nghệ thuật trình diễn nghi lễ then, bởi nó mang nhiều yếu tố đóng - nhập vai. Trò diễn trong then mô phỏng, tái hiện lại những hoạt cảnh trong cuộc sống hiện thực một cách ước lệ, là sự giao cảm giữa thần linh và con người. Yếu tố giải trí chỉ xuất hiện ở phần hội, khi trò diễn trong nghi lễ then chuyển sang yếu tố mô phỏng, tái hiện…
 
Tùy vào từng nghi lễ mà có những trò diễn phù hợp, mang ý nghĩa tương ứng. Trong lẩu then cấp sắc, nghi lễ pắt mạ, lập trạm là trò diễn tiêu biểu. Trong đó có bắt ngựa xanh, ngựa hồng. Ngựa xanh thực chất là các bó lá dẻ có gai nhọn, được các bà phụ then hái từ sáng sớm. Sau khi thực hiện các lễ phù phép, những bó lá này sẽ trở thành con vật linh thiêng để các vị quan tướng cưỡi khi về nhập đồng. Còn ngựa hồng là những bó đuốc bằng tre khô được buộc túm hai đầu, đặt trên một chiếc đế lớn bằng đất, đốt lên để quan tướng lúc về đồng sẽ dẫm qua. Những bó đuốc này được chuẩn bị sẵn, để ở đầu sàn. Khi đoàn người bắt ngựa xanh về thì ngựa hồng cũng được đưa vào nhà. Mỗi ngựa hồng cắm một nén hương…
 
Từ buổi trình diễn nghi lễ then, chúng ta cảm nhận được sự kết hợp hài hòa của các thành tố. Ở đó, những làn điệu, lời ca, điệu múa hòa quyện trong không gian sắc màu của trang trí truyền thống, thể hiện óc thẩm mỹ tinh tế của người Tày. Bên cạnh đó, sự kết hợp này còn được biểu hiện trong nhiều hình thái khác nhau, sự trang nghiêm của buổi nghi lễ chuyển sang sự vui nhộn của phần hội.
 
______________
 
1, 2. Triều Ân, Then Tày giải hạn, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2013, tr.107, 173.
 
3, 6, 8. Nhiều tác giả, Mấy vấn đề then Việt Bắc, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 1978, tr.145, 194, 159.
 
4. Lê Ngọc Canh, Múa tín ngưỡng dân gian Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1998.
 
5. Lâm Tô Lộc, Múa dân gian các dân tộc Việt Nam, Nxb Thời đại, Hà Nội, 2013, tr.60-62.
 
7. Dương Thị Lâm, Nghệ thuật then của người Tày ở Lạng Sơn, Luận văn ngành Văn hóa học, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, 2002, tr.55.
 
9, 10. Nông Thị Nhình, Nét chung và riêng của âm nhạc trong diễn xướng Then Tày Nùng, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 2004, tr.161, 168.

Nguyễn Thị Tuyết Nhung
Tạp chí VHNT số 391
CHIA SẺ ĐẾN BẠN BÈ: