HOTLINE: 0904 89 4444

“VNEN”: Mô hình trường học mới tiệm cận mô hình đào tạo E-Learning
Trong xu thế phát triển của cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 đang diễn ra, Giáo dục là lĩnh vực chịu sự tác động này nhanh hơn cả bởi chính giáo dục cũng sẽ tạo ra những phiên bản mới của các cuộc cách mạng công nghiệp tiếp theo. Một trong những đổi mới của giáo dục hiện nay là trường học mới (VNEN) đã tiệm cận và tạo tâm thế cho thế hệ trẻ Việt khi tiếp cận với mô hình đạo tạo đang phát triển mạnh mẽ trên thế giới là E-Learning.
15:31 03-08-2017

Năm 2009, UNESCO, UNICEF & WB giới thiệu mô hình trường học mới tại Hội nghị Giáo dục khu vực ở CEBU Philipin. Ngày 9/1/2013, Chính phủ đã ký Hiệp định tài trợ số GPE TF013048 với Tổ chức hợp tác giáo dục toàn cầu tại trợ, ủy thác qua Ngân hàng Thế giới; cơ quan giám sát là tổ chức UNESCO tại Việt Nam tài trợ Dự án mô hình trường học mới tại Việt Nam. Dự án mô hình trường học mới (Dự án GPE-VNEN) được áp dụng tại 1.447 trường tiểu học của 63 tỉnh, thành phố.

Từ năm học 2011 - 2012, Bộ GD&ĐT đã triển khai mô hình trường học mới (VNEN) đối với cấp tiểu học. Năm học 2013 - 2014, có 20 tỉnh tự nguyện mở rộng áp dụng mô hình này ở các trường ngoài dự án với 257 trường. Năm học 2014 - 2015 đã có 1.447 trường tiểu học trên phạm vi toàn quốc có học sinh học hết lớp 5 theo mô hình này. Đồng thời Bộ GD&ĐT chỉ đạo 6 tỉnh triển khai thực nghiệm mô hình ở 48 lớp 6 của 24 trường THCS. Năm học 2015 - 2016, có trên 3.700 trường tiểu học triển khai áp dụng mô hình; hơn 1.600 trường THCS đăng ký tham gia triển khai mô hình trường học mới đối với lớp 6. Năm 2016 - 2017 số lượng trường Tiểu học tham gia nhân rộng là 4.441 trường (xấp xỉ 15%), số lượng trường THCS tham gia nhân rộng là 1.180 trường (xấp xỉ 10%).

Năm học 2012 - 2013, Dự án Mô hình trường học mới triển khai tại 63 tỉnh, thành phố với tổng số trường tham gia Dự án là 1.447 trường (Nhóm 1: gồm 20 tỉnh vùng núi khó khăn, có học sinh dân tộc thiểu số: 1.143 trường; Nhóm 2: gồm 21 tỉnh trung bình: 282 trường; Nhóm 3: gồm 22 tỉnh thuận lợi: 22 trường), tổng số điểm lẻ: 1.848 điểm, tổng số học sinh tham gia VNEN là 43.8274 học sinh/1.447 trường.

Triển khai nhân rộng mô hình: Ngoài 1.447 trường thuộc Dự án, theo từng năm học, số trường tiểu học tự nguyện áp dụng mô hình VNEN tăng lên. Cụ thể:

Năm học 2013 - 2014, có 20 tỉnh tự nguyện mở rộng áp dụng mô hình này ở các trường ngoài dự án với 257 trường/tổng số học sinh là 62.064 học sinh.

Năm học 2014 - 2015, có 20 tỉnh tự nguyện mở rộng áp dụng mô hình này với 987 trường/tổng số học sinh là 133.562 học sinh.

Năm học 2015 - 2016, có 54 tỉnh tự nguyện mở rộng áp dụng mô hình này với 2.245 trường/tổng số học sinh là 450.445 học sinh.

Năm 2016 - 2017, các trường tiểu học thuộc Dự án là 1.370 trường, giảm 73 trường của Hà Giang và 4 trường của các tỉnh khác do sáp nhập trường; có 3.067 trường không thuộc Dự án tự nguyện tham gia áp dụng mô hình.

Từ năm học 2014 - 2015, mô hình trường học mới cấp THCS được triển khai thực nghiệm tại 6 tỉnh (Lào Cai, Hà Giang, Hòa Bình, Khánh Hòa, Đăk Lăk, Kon Tum), mỗi tỉnh 2 huyện, mỗi huyện 2 trường, mỗi trường 2 lớp 6 (tổng số 48 lớp).

Từ năm học 2015 - 2016, Bộ triển khai mở rộng mô hình trường học mới cấp trung học cơ sở đối với lớp 6 trên tinh thần tự nguyện (đáp ứng nhu cầu của học sinh đã học xong lớp 5 từ 1.447 trường tiểu học tham gia Dự án GPE - VNEN), trong đó có 1.214 trường với 2.980 lớp.

Năm học 2016 - 2017, số trường thực hiện mô hình trường học mới đối với lớp 6 là 1.161 trường với 2.995 lớp, lớp 7 là 1.035 trường với 2.514 lớp.

Theo số liệu cung cấp của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, tính tới thời điểm cuối tháng 6/2017. Số lượng đăng ký triển khai VNEN trong năm học (2017 – 2018) như sau:
 
(*) Mô hình giáo dục mới (VNEN): Đổi mới và đóng góp cơ bản của quan điểm giáo dục theo mô hình trường học mới VNEN so với quan điểm giáo dục truyền thống là thay đổi phương pháp dạy học, cách thức tổ chức hoạt động dạy học. Theo đó, hoạt động học của học sinh được coi là trung tâm của quá trình dạy học. Tài liệu được thiết kế cho học sinh hoạt động, học nhóm, tự học; dùng chung cho học sinh, giáo viên, và cha mẹ học sinh. Môi trường học tập cởi mở, thân thiện, hiệu quả. Giáo viên với vai trò là người hướng dẫn học, quan tâm đến sự khác biệt trong việc tiếp thu kiến thức của học sinh. Nhà trường thiết lập mối liên hệ chặt chẽ với cha mẹ học sinh, cộng đồng. VNEN đánh giá học sinh thường xuyên theo quá trình học tập nhằm kiểm tra và hướng dẫn phương pháp học tập có hiệu quả cho học sinh. Giáo viên có vị trí mới, được bồi dưỡng thường xuyên để nâng cao trình độ tác nghiệp, đáp ứng vai trò là người hướng dẫn, tổ chức hoạt động học tập, giáo dục, đánh giá học sinh và phối hợp với cha mẹ học sinh và cộng đồng phát huy tối đa những sở trường của học sinh.

Dưới góc nhìn đổi mới của chuyên gia, ba đổi mới cơ bản của mô hình trường học mới VNEN là: 

(1) Đổi mới tổ chức quản lí lớp học (Học sinh tự quản): Học sinh được tự hình thành các tổ chức của lớp (lãnh đạo lớp, các Ban và được biết, bàn, bầu, làm, đánh giá), bầu các vị trí lãnh đạo theo cơ chế luân phiên (thay nhau làm lãnh đạo như một nghĩa vụ, tạo cơ hội phát triển cho tất cả học sinh, tôn trọng sự khác biệt, cùng chung sống và phát triển) - Tự xây dựng các quy định, các hoạt động của lớp - Tự quản lí, điều hành mọi hoạt động của lớp (Tự giác; Tập thể; Tự quản).

(2) Đổi mới tài liệu học tập (Sách hướng dẫn học): Học sinh tự học, tự quản lí, tự đánh giá; Giáo viên tổ chức, hướng dẫn; Gia đình, cộng đồng chủ động, tích cực tham gia quá trình giáo dục học sinh.

(3) Đối mới hoạt động dạy học (Học sinh tự học): Học sinh Đọc, làm theo hướng dẫn tự hình thành kiến thức (Kiến thức ở tiểu học đơn giản, thường thức, gần gũi với học sinh); Giáo viên tổ chức, kiểm soát quá trình, kết quả học tập của học sinh.

Dưới góc nhìn xã hội, mô hình trường học mới được đánh giá có những điểm ưu việt ở tiểu học, mô hình đã tiếp cận khá tốt các yêu cầu đổi mới giáo dục và bước đầu khắc phục được những hạn chế của mô hình giáo dục truyền thống. Đó là, không dạy học đồng loạt mà dạy học hướng đến sự phù hợp và phát triển năng lực của từng học sinh; có giải pháp kỹ thuật và vật chất để đổi mới phương pháp dạy, phương pháp học. Đặc biệt, mô hình trường học mới đã tiếp cận cách đánh giá học sinh, coi trọng đánh giá thường xuyên, đánh giá quá trình, đánh giá vì sự tiến bộ của học sinh.

* Mô hình E-Learning: E-learning là một phương thức đào tạo hiện đại dựa trên công nghệ thông tin... Với sự bùng nổ phát triển của công nghệ hiện nay, E-learning ngày càng được ưa chuộng bởi tính linh hoạt và tiện dụng về thời gian lẫn địa điểm. Nó giúp giải quyết nhiều vấn đề khó khăn khi người học có thể có thể học mọi lúc mọi nơi, ở văn phòng, ở nhà hoặc bất kỳ địa điểm nào thuận tiện và có thể học nhiều lần.

Ưu việc của mô hình này là:


Không bị giới hạn bởi không gian và thời gian: Sự phổ cập rộng rãi của internet đã dần xóa đi khoảng cách về thời gian và không gian cho E-Learning. Người học có thể chủ động học tập, thảo luận bất cứ lúc nào và bất cứ nơi đâu.

Tính hấp dẫn: Với sự hỗ trợ của công nghệ multimedia, những bài giảng tích hợp text, hình ảnh minh họa, âm thanh làm tăng thêm tính hấp dẫn của bài học.

Tính linh hoạt: Người học có thể tự điều chỉnh quá trình học, lựa chọn cách học phù hợp nhất với hoàn cảnh của mình.

Tính cập nhật: Nội dung bài học thường xuyên được cập nhật và đổi mới nhằm đáp ứng tốt nhất và phù hợp nhất với người học.

Học có sự hợp tác, phối hợp: Người học có thể dễ dàng trao đổi thông tin với nhau, với giảng viên qua các diễn đàn (forum), hội thoại, trực tuyến (chat), thư từ (e – mail)…

Tâm lí dễ chịu: Mọi rào cản về tâm lí giao tiếp của cả người dạy và người học dần dần bị xóa bỏ, mọi người tự tin hơn trong việc trao đổi quan điểm.

Các kĩ năng làm việc hợp tác, tự điều chỉnh để thích ứng của người học sẽ được hoàn thiện không ngừng.

Do đó, khi đến với E-Learning, mọi thành phần, không phân biệt trình độ, giới tính tuổi tác đều có thể tìm cho mình một hướng tiếp cận khác nhau với vấn đề mà không bị ràng buộc trong một khuôn khổ cụ thể nào (cá nhân hoặc người học).

* Mối quan hệ giữa VNEN và E-Learning: Mô hình Trường học E-Learning là các học sinh phải biết kỹ năng làm việc, học tập theo nhóm, kỹ năng tổ chức nhóm, xử lý xung đột nhóm và phương thức E-learning cho phép người học có thể học bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào, học những vấn đề bản thân quan tâm, phù hợp với năng lực và sở thích, phù hợp với yêu cầu công việc và chủ động trong học tập… điều này trong mô hình trường học mới VNEN có nhiều điểm tương đồng là rất chú trọng trong việc đào tạo những kỹ năng mềm như: Học theo nhóm, kỹ tổ chức nhóm, tôn trọng những quan điểm cá nhân, tính tự giác trong học tập… Nếu học sinh theo học mô hình trường học mới VNEN khi chuyển đổi qua mô hình học E-Learning sẽ rất chủ động, không bị khớp và chán học như học theo mô hình giáo dục truyền thống.

Khi mà thế giới đang phát triển rất nhanh mô hình trường học giảng dạy theo phương pháp E-Learning (giáo dục 4.0) thì ở Việt Nam trong những năm qua đã có nhiều đơn vị tiên phong là Topica, FPT,… liên kết với các trường Đại học đạo tạo theo mô hình này như Trường Đại học Kinh tế, Trường Đại học Thái Nguyên, Viện Đại học Mở, Trường Đại học FPT,... mô hình trường học mới VNEN cần được mở rộng hơn nữa để thế hệ học sinh tương lai theo kịp hệ sinh thái giáo dục 4.0 trong cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 mà theo “GS.TS Klaus Schwab, người sáng lập và điều hành Diễn đàn Kinh tế Thế giới cho rằng, tốc độ đột phá của Cách mạng Công nghiệp 4.0 hiện “không có tiền lệ lịch sử”, nó đang phá vỡ hầu hết ngành công nghiệp ở mọi quốc gia và ngành giáo dục sẽ thay đổi toàn diện trong cuộc cách mạng này”.
 
Kiều Công Thược 
CHIA SẺ ĐẾN BẠN BÈ: