HOTLINE: 0904 89 4444

Kỷ niệm về phim "Bao giờ cho đến tháng Mười"
(Phương Nam Plus) - Nhân dịp đạo diễn, NSND Đặng Nhật Minh, nhà hoạt động điện ảnh Việt Nam nổi tiếng thế giới, bước sang tuổi 80 (ông sinh ngày 10 tháng 5 năm 1938), xin trích giới thiệu đoạn “Hồi ký điện ảnh” của ông viết về bộ phim nổi tiếng nhất của ông, “Bao giờ cho đến tháng 10”, bộ phim từng được Đài truyền hình CNN của Mỹ bình chọn là một trong 18 phim châu Á hay nhất mọi thời đại.
14:41 02-04-2018
 
Bao giờ cho đến tháng Mười là một trong 18 phim châu Á xuất sắc nhất mọi thời đại

Tôi bắt tay viết kịch bản Bao giờ cho đến tháng Mười xuất phát từ nỗi đau của gia đình tôi, từ nỗi đau của hàng vạn, hàng triệu người có người thân ngã xuống trong chiến tranh. Đó là những điều đã có sẵn trong tôi, không cần phải tìm kiếm đâu xa cả. Chỉ cần tìm hình thức thể hiện nữa thôi. Một lần ngồi trú mưa trên đê, trong quán nước ven đường ở huyện Quế Võ, tỉnh Hà Bắc, tôi nhìn thấy dưới cánh đồng xa xa, một đoàn người lầm lũi đi trong mưa.
 
Khi đoàn người đến gần tôi nhận ra đó là một đám tang. Theo sau chiếc kiệu có bốn người khiêng là một phụ nữ trẻ quấn khăn trắng, dắt một đứa con trai chừng 7 tuổi. Bà con trong quán cho biết chồng chị là bộ đội đi B, hy sinh đã lâu, nhưng bây giờ người ta mới báo tin cho gia đình biết và làm lễ rước hương hồn người chiến sĩ về yên nghỉ tại nghĩa trang của làng. Còn anh đang nằm ở đâu trên chiến trường miền Nam, đến bây giờ không ai biết. Người phụ nữ chít khăn tang đi dưới chiều mưa hôm ấy chính là chị Duyên sau này trong bộ phim Bao giờ cho đến tháng Mười.
 
Mở đầu phim là cảnh chị Duyên về làng sau khi vào Nam thăm chồng về. Nhưng chồng chị đã không còn nữa. Anh đã hy sinh trong một trận chiến đấu ở biên giới Tây Nam. Vì nỗi đau quá bất ngờ, vì đường xa mệt nhọc nên khi qua đò chị đã bị ngất đi, rơi xuống sông. May có Khang, một giáo viên trong làng đi cùng đò đã nhảy xuống sông vớt được chị. Khang cũng vớt lên được tờ giấy báo tử của chồng Duyên nên anh trở thành người đầu tiên biết cái tin này.
 
Nhưng Duyên lại muốn giấu kín tin dữ đó, chị không muốn làm cho bố chồng đang già yếu phải đau buồn. Chị đã nhờ Khang viết những lá thư giả để làm yên lòng những người trong gia đình chồng, một tình tiết có thật trong đời sống mà tôi từng được nghe. Mối quan hệ thầm kín của hai người bắt đầu từ đó. Cảm động trước sự  hy sinh chịu đựng và nỗi mất mát của Duyên, Khang đã đem lòng yêu mến cô, muốn được thay thế người đã mất, lo toan cho hạnh phúc cho cô và đứa con lên bảy tuổi.
 
Anh viết thư bộc lộ những tình cảm đó với Duyên. Không may bức thư lọt vào tay bà chị dâu và câu chuyện vỡ lở khắp làng. Khang mang tiếng là người yêu phụ nữ có chồng là bộ đội đang chiến đấu ở xa. Anh bị điều đi dạy ở nơi khác. Còn Duyên vẫn âm thầm chịu đựng nỗi đau cho đến một ngày ông bố chồng sắp hấp hối bắt cô phải đánh điện xin cho chồng về. Thấy Duyên chần chừ, đứa con trai lên bảy đã tự ý lên bưu điện huyện để đánh điện cho bố.
 
Giữa đường nó xin đi nhờ một xe commanca chở bộ đội. Những người lính trên xe biết rõ sự tình bèn đánh xe quay về làng. Khi họ về đến làng, đứng bên giường của bố chồng Duyên thì cũng vừa lúc cụ trút hơi thở cuối cùng sau khi tin rằng con trai mình đã về. Mọi người trong làng bây giờ mới biết rằng chồng Duyên đã hy sinh, họ không còn hiểu lầm Khang nữa, nhưng anh đã đi rồi. Bây giờ Duyên lại mong tin anh, mong anh trở lại… Ngày  khai giảng, cô đưa con đến trường và hỏi thăm tin anh.
 
Kịch bản Bao giờ cho đến tháng Mười được Cục điện ảnh thông qua một cách nhanh chóng không gặp trắc trở gì, chỉ yêu cầu không được để thầy giáo Khang yêu cô Duyên (hồi ấy ông Nguyễn Thụ làm Cục trưởng). Nhưng đối với tôi, không có mối quan hệ đó thì còn gì là phim. Chấp hành ý kiến của Cục, tôi chỉ làm nhẹ mối quan hệ đó thôi chứ không bỏ hẳn. Hãng phim cử cho tôi một chủ nhiệm phim chưa làm chủ nhiệm chính một phim bao giờ và phân cho tôi một máy quay phim Côn-vát cũ của Liên Xô chất lượng rất kém, đến nỗi trong lúc quay phá hỏng không biết bao nhiêu thước phim, buộc tôi phải quay đi quay lại nhiều lần.
 
Không chịu được nữa tôi bèn tự đi mượn một máy quay của Viện Sốt rét ký sinh trùng và côn trùng (nơi cha tôi trước kia làm Viện trưởng) để quay nốt nửa phim còn lại. Đây là chiếc máy quay Côn-vát do Liên xô viện trợ cho Viện để quay các phim giáo khoa về phòng chống sốt rét. May thay nó còn rất mới vì ít được dùng tới. Trong lúc đang quay giữa chừng, nhà quay phim Nguyễn Lân (vốn là giảng viên quay phim của trường Điện ảnh được Hãng mời sang quay cho phim này) bỗng nhiên thông báo sẽ đi Campuchia để giảng dạy trong 1 tháng (những ngày ấy được đi Campuchia là một dịp may, ít ai từ chối).
 
 
Một cảnh trong phim

Không thể dừng cả đoàn chờ đợi được, tôi quyết định sẽ làm việc với phó quay phim Phạm Tiến Đạt. Ông Lân biết vậy tuyên bố với giám đốc Hải Ninh rằng sau khi đi Campuchia về sẽ không quay lại đoàn phim nữa. Giám đốc Hải Ninh tức tốc vào đoàn phim yêu cầu ngừng quay, không chấp nhận phó quay phim Phạm Tiến Đạt làm quay chính. Nhưng khi vào tới nơi, thấy tôi vẫn bình tĩnh làm việc với Đạt, công việc vẫn tiến hành đều đặn, ông trở về và vài hôm sau cử nhà quay phim Nguyễn Đăng Bẩy xuống đoàn để phụ giúp.
 
Vậy là trong phim này thực chất có 3 quay phim với 3 phong cách khác nhau khiến tôi phải vất vả rất nhiều để giữ sự thống nhất trong các cảnh quay. Tôi đã mời nữ diễn viên Lê Vân vào vai chính của phim, để rồi từ đó tên tuổi của cô gắn liền với hình ảnh chị Duyên, người vợ liệt sĩ, tiêu biểu cho hàng vạn, hàng triệu phụ nữ Việt Nam trong chiến tranh. Trước đó Lê Vân đã xuất hiện trong một vài phim nhưng để lại ấn tượng nhất cho khán giả đến nay vẫn là vai Duyên trong phim Bao giờ cho đến tháng Mười.  Người làm nhạc cho phim này là nhạc sỹ Phú Quang.
 
Hồi ấy anh còn trẻ lắm vừa mới tốt nghiệp khoa sáng tác Trường âm nhạc và chưa từng làm nhạc phim bao giờ. Tôi biết anh là nhờ chị Phương Chi, bạn của vợ tôi,giáo viên piano ở trường giới thiệu. Anh đánh cho tôi nghe những giai điệu đầu tiên sáng tác cho phim trên chiếc piano trong căn hộ chật hẹp chỉ vừa đủ kê một chiếc đàn và một chiếc giường đôi ở trong ng Văn Chương Hà nội. Anh đã rung động thực sự khi làm nhạc cho phim này do đó âm nhạc của anh đã đi vào phim rất ngọt ngào, nâng sức truyền cảm của hình ảnh lên rất nhiều. Đến bây giờ tôi vẫn tiếc một điều: giá anh sử dụng thêm nhạc cụ dân tộc thì có lẽ chất dân gian sẽ còn đậm đà hơn.
 
Khi bộ phim hoàn thành, giám đốc Hải Ninh xem xong yêu cầu cắt bỏ trường đoạn chợ âm dương với lý do mê tín dị đoan. Đây là một trong những trường đoạn tâm đắc nhất của tôi trong phim này, nó đến với tôi không phải là tình cờ. Từ lâu tôi có đọc trong kho tàng truyện cổ Việt Nam có một chuyện làm tôi hết sức chú ý. Đó là câu chuyện về đôi vợ chồng trẻ, không may người chồng bị chết một cách oan ức.
 
Anh báo mộng dặn chị chờ đến phiên chợ Mạch Ma thì đến để anh gặp. Tại phiên chợ đó hai người đã gặp được nhau. Người chồng đã nói rõ sự oan ức của mình để chị vợ kêu lên cửa quan. Truyện còn ghi rõ chợ Mạch Ma ấy nằm ở Quảng Yên. Một lần trên đường đi Hạ Long, khi qua bến phà Rừng, xe dừng lại ở Quảng Yên và tôi bàng hoàng nhận ra mình đang ngồi uống nước trong chính cái chợ Mạch Ma đó. Sau này lên Hà Bắc nhà thơ Nguyễn Thanh Kim có cho tôi mượn đọc cuốn Địa dư chí Hà Bắc.
 
Trong sách đó, ở mục Chợ Hà Bắc có ghi rõ những thôn nào, xã nào, ngày giờ nào, có những phiên chợ âm dương. Qua hai sự việc trên tôi nhận ra rằng trong tâm thức của người Việt Nam không có sự cách biệt giữa cõi Âm và cõi Dương, giữa người sống và người chết, đúng như cụ Nguyễn Du đã viết: Thác là thể phách, còn là tinh anh. Đó là một đặc điểm tâm lý rất Việt Nam. Nhưng giám đốc Hải Ninh không quan tâm tới điều đó. Ông chỉ sợ cấp trên phê bình là phim mang màu sắc duy tâm huyền bí, tuyên truyền cho mê tín dị đoan.
 
Trước áp lực của ông tôi đành nhân nhượng cắt ngắn bớt trường đoạn này, điều làm tôi đau xót vô cùng. Ông giám đốc này thường có một lập luận thoạt nghe rất có lý: bộ phim làm ra không phải của cá nhân một ai. Nó là tài sản chung, là cơm áo gạo tiền của cả Hãng. Nếu phim có gì trục trặc, trên không cho ra thì hàng trăm cán bộ công nhân viên Hãng chết chứ không chỉ mình đạo diễn. Bởi vậy người giám đốc mới là người có trách nhiệm chính đối với bộ phim. Tôi không thể chấp nhận cái lập luận kiểu đó và cương quyết không chịu cắt bỏ thêm một cảnh nào nữa trong trường đoạn chợ âm dương.
 
Không còn cách nào dồn ép tôi được, giám đốc Hải Ninh bèn mời các cấp trên xuống xem trước cho an toàn. Có lẽ chưa có phim nào của Việt Nam lại phải duyệt đi duyệt lại nhiều tầng nhiều nấc như bộ phim này. Cứ mỗi nấc duyệt lại nảy sinh thêm những rắc rối mới. Mặc dù Thứ trưởng Bộ Văn hóa Đình Quang ủng hộ, nhưng Thứ trưởng Vũ Khắc Liên lại băn khoăn không biết lúc này đã nên nói đến chuyện đau thương mất mát trong chiến tranh chưa?
 
Ông cho biết ở Liên Xô 15 năm sau chiến tranh người ta mới làm phim Khi đàn sếu bay. Ở ta chiến tranh vừa mới chấm dứt không lâu, ở biên giới Tây Nam vẫn còn chiến sự, cần động viên thanh niên ra trận bảo vệ Tổ quốc. Nên xin ý kiến thêm các anh ở trên. Cứ như vậy lần lượt các Thứ trưởng đến Bộ trưởng trong Bộ, rồi tới ủy viên Bộ Chính trị Tố Hữu, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng Nguyễn Đức Tâm và rồi cuối cùng là tới Tổng Bí thư Đảng Trường Chinh duyệt. Tổng cộng tất cả là 13 lần duyệt.
 
 
Việt Bảo (trái) và Lê Vân trong phim Bao giờ cho đến tháng Mười

Tôi cảm tưởng như mình là kẻ tội phạm bị các phiên tòa lôi ra xét xử liên tục. Tưởng đã thoát được trong phiên này lại bị lôi ra xử lại trong phiên khác. Trước khi được gọi đem phim tới chiếu tại nhà Tổng Bí thư Trường Chinh, tôi nói với các đồng sự: có lẽ đây là phiên xử cuối cùng. Đồng chí Trường Chinh ăn cơm tối xong cùng cả nhà ra phòng khách để xem phim. Một chiếc máy quay lưu động đã được đặt sẵn giữa phòng. Đèn tắt. Phim bắt đầu chiếu trong tiếng máy chạy rè rè.
 
Tôi ngồi một góc phòng bên cạnh nữ diễn viên Lê Vân hồi hộp quan sát thái độ của đồng chí Tổng Bí thư. Tôi thấy đồng chí im lặng xem, theo dõi diễn biến trên phim không biểu lộ thái độ gì. Khi đèn bật sáng, đồng chí chậm rãi tiến về phía nữ diễn viên Lê Vân bắt tay và chỉ nói mỗi một câu: Thương lắm. Rồi đi vào. Đồng chí thư ký của Tổng Bí thư bảo chúng tôi ra về, ông sẽ truyền đạt ý kiến của Tổng Bí thư xuống cho lãnh đạo Hãng sau. Cả đoàn ra về phấp phỏng, không biết hai chữ “thương lắm” có phải là lời phán quyết cuối cùng chưa? Chúng tôi kéo nhau đi ăn phở.
 
Tôi nói đùa với Lê Vân: Biết đâu ông nói thương là thương cháu chứ không phải thương cô Duyên thì sao? Những nhà chính trị nói ít nhưng ta phải hiểu nhiều. Tôi nhớ lần đem phim này vào chiếu cho ông Tố Hữu duyệt. Xem xong ông chỉ nói một câu: Gãi đúng chỗ ngứa thế này thì thiên hạ thích đây. Mãi về sau tôi mới hiểu chỗ ngứa mà ông nói nghĩa là gì. Đó là nỗi đau, là sự mất mát trong chiến tranh trong mỗi gia đình người Việt Nam. Tôi đã chạm vào nỗi niềm đó, và chỗ đó theo ông là chỗ ngứa. Tôi bỗng nhớ đến những câu thơ mà ông đã từng viết thuở còn trong bóng tối trong bài Tiếng hát sông Hương: Ngày mai thôi kiếp lầm than… Sẽ đưa em đến một vườn đầy hoa v.v… Ý nghĩ về bộ phim Cô gái trên sông của tôi bắt đầu hình thành từ đấy.
 
Sau lần đem phim vào chiếu cho Tổng Bí thư xem tôi không thấy giám đốc Hải Ninh yêu cầu chiếu cho ai xem nữa. Vụ xử đã kết thúc. Bộ phim Bao giờ cho đến tháng Mười đã được tha bổng. Lập tức nó được khán giả trong cả nước đón nhận hết sức nồng nhiệt. Không những thế nó còn nhận được mối thiện cảm rất lớn của khán giả nước ngoài. Có lẽ đây là một phim truyện đầu tiên của Việt Nam đến được với công chúng ngoài biên giới sau năm 1975.
 
Tôi được Đại sứ quán Pháp cấp học bổng sang tu nghiệp tại Pháp trong một năm. Một tháng sau khi tôi tới Paris, Bộ ngoại giao Pháp đã long trọng tổ chức chiếu ra mắt bộ phim này tại rạp chiếu bóng Cosmos trên đại lộ Rue de Reinnes ở trung tâm thành phố. Điều này làm Đại sứ quán ta tại Paris rất ngạc nhiên vì từ trước tới nay chưa thấy họ làm như vậy bao giờ. Giấy mời tới xem phim được in rất trang trọng.
 
Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pháp Roland Dumas và Bộ trưởng Bộ Văn hóa Pháp Jack Lang cùng đứng tên trên giấy mời. Khách mời là ngoại giao đoàn ở Paris, giới văn nghệ sĩ, điện ảnh Pháp, đại diện kiều bào ta. Có thể nói buổi chiếu đã thành công mỹ mãn. Nhà văn kiêm nữ ký giả Pháp Madeleine Riffaud sau khi xem xong nước mắt giàn giụa ôm hôn tôi hồi lâu. Rồi chị ngỏ ý muốn nhận tôi làm em nuôi. Sau buổi chiếu đó tôi có thêm biết bao bạn bè người Pháp và người Việt sống ở Paris.
 
Khỏi phải nói sự háo hức của tôi khi lần đầu tiên được đến Paris. Những ngày nghỉ cuối tuần chị Madeleine dẫn tôi đi thăm những danh lam thắng cảnh, giới thiệu với tôi những nơi từng ghi dấu ấn của những danh nhân văn hóa Pháp và thế giới. Một lần chị đưa tôi đến một chiếc cầu bắc qua sông Seine, chỉ cho tôi nơi chị đã bắn một tên sĩ quan SS Đức trong những ngày Paris bị chiếm đóng. Hồi đó chị mới 18 tuổi, được tổ chức giao nhiệm vụ phải hạ sát tên sĩ quan này.
 
Người ta cho biết hắn có thói quen cứ đến 5 giờ chiều thì bỏ hết mọi công việc để ra đây ngắm hoàng hôn trên sông Seine. Đó là thời điểm thích hợp nhất để hạ sát hắn. Và chị đã làm như vậy vào một buổi chiều như vậy trên chiếc cầu này. Chị trở thành người con gái tiêu biểu của Paris kháng chiến kể từ sau chiến công ấy. Nhưng chị nói với tôi: Cho đến bây giờ chị vẫn còn chút ân hận, giá chị bắn hắn vào một lúc khác, không phải là cái lúc hắn đang ngắm hoàng hôn. Vào cái phút đó, hắn là một con người biết thưởng thức cái đẹp. Chị còn đưa tôi đến một căn nhà hầm ẩm thấp nơi chị đã từng ngồi viết cuốn Trong rừng rậm Việt cộng kể về chuyến đi vào khu giải phóng của Mặt trận Giải phóng miền Nam năm 1972. Những kỷ niệm đầu tiên của tôi với Paris đều gắn liền với người phụ nữ thơng minh và xinh đẹp này (Picasso đã từng vẽ chân dung chị). Chị còn tâm sự với tôi về một cuộc tình với một người đàn ông Việt Nam mà chị cho là không rõ chị đã yêu con người ấy hay là yêu Việt Nam qua con người cụ thể ấy, chị cũng không biết nữa.
 
Trước khi bước vào thực tập về điện ảnh, tôi được xuống thành phố Vichy ở miền Nam nước Pháp để ôn luyện tiếng Pháp. Thành phố cổ kính này có những không gian không hiểu sao gợi cho tôi rất nhiều về Huế và Hà Nội. Có lẽ do kiến trúc của nó chăng, một kiểu kiến trúc mà ở Việt nam thường được gọi là kiển trúc thuộc địa.  Tôi được sống một quãng đời sinh viên rất ngắn ngủi (chỉ có hai tháng) giữa những sinh viên đủ mọi quốc tịch trên thế giới đến đây ôn luyện tiếng Pháp trước khi vào các trường đại học.
 
Một hôm Đại sứ quán ta ở Paris nhắn tôi đến gấp có việc cần trao đổi. Đại sứ Hà Văn Lâu cho biết Liên hoan phim quốc tế ở Hawaii (Mỹ) điện sang mời tôi có mặt ở Honolulu gấp. Họ đã lo liệu xong vé máy bay cho tôi đi thẳng từ Paris sang Honolulu. Đại sứ Hà Văn Lâu điện về xin ý kiến bên nhà và được Bộ Văn hóa trả lời: chỉ cho đạo diễn Đặng Nhật Minh đi Pháp chứ không đi Mỹ. Năm đó phim Bao giờ cho đến tháng Mười được bà Ladinki, một bác sĩ Mỹ hoạt động trong Hội khoa học Mỹ – Việt xin phép Bộ Văn hoá đem sang Hawaii dự thi và phim đã được tặng giải đặc biệt của Ban Giám khảo. Trước ngày trao giải bà tìm tôi khắp nơi. Sau này gặp lại ở Hà Nội, bà cho biết ở Liên hoan phim năm đó người ta rất mong chờ sự có mặt của tôi.
 
Khởi từ Liên hoan phim đó, bộ phim Bao giờ cho đến tháng Mười bắt đầu một cuộc hành trình rất dài qua màn ảnh của rất nhiều quốc gia trên thế giới, mang lại không ít thiện cảm cho đất nước Việt Nam, nền điện ảnh Việt Nam. Sau này tôi được nghe kể lại buổi chiếu đầu tiên của bộ phim tại Honolulu (Hawaii) vào tháng 11.1985 như sau: Các thuyền nhân Việt Nam ở Honolulu nghe có một bộ phim của Cộng sản Hà Nội được chiếu kéo đến vây xung quanh rạp với những biểu ngữ phản đối. Trước giờ chiếu 15 phút, cảnh sát nhận được một cú điện thoại báo tin trong rạp bị cài mìn. Lập tức khán giả được mời ra khỏi rạp. Sau một giờ rà soát, cảnh sát xác định tin kia là thất thiệt mới cho khán giả vào lại. Nhiều thuyền nhân cũng vào xem cốt để gây rối trong khi chiếu. Nhưng buổi chiếu đã kết thúc tốt đẹp trong tiếng vỗ tay và những giọt nước mắt đọng trên mi của nhiều người, trong đó có cả những thuyền nhân Việt Nam. Họ xúc động xem từ đầu đến cuối quên cả dự định từ trước của mình. Đó là những ngày căng thẳng nhất trong quan hệ Mỹ-Việt.
 
Trong những ngày thực tập ở Pháp tôi đã học được rất nhiều điều bổ ích cho nghề nghiệp ở nền điện ảnh Pháp mà tôi từng hâm mộ từ lâu với các tên tuổi như: Alain Resnais, Truffaut, Godard… Tôi còn phát hiện ra những tên tuổi mới như Pialat, Téchiné, Romer… Tôi còn được xem những phim của Roman Polanski, Milos Forman, Andrei Konchalovski… mà tôi cảm thấy rất gần gũi trong phong cách làm phim. Đặc biệt ở Paris tôi còn khám phá cho mình một nền điện ảnh vĩ đại nữa mà tôi chưa hề biết đến bao giờ: nền điện ảnh Nhật Bản của Ozu, Kurosawa, Mizogushi…
 
Đặng Nhật Minh/VHVN
CHIA SẺ ĐẾN BẠN BÈ: