HOTLINE: 0904 89 4444

Lưu Quang Vũ, những năm lận đận
(Phương Nam Plus) - Đi chơi lòng vòng phố xá, rồi Lưu Quang Vũ đưa tôi về căn phòng anh ở, tại 96 phố Huế. Căn phòng nhỏ hẹp trên gác. Khi ấy, Tố Uyên đang bế cậu con trai, tên gọi là Kít, chừng một tuổi. Uyên cười tươi. Vũ mỉm cười đón con từ tay Uyên. Anh âu yếm hôn lên vầng trán thằng bé. Thằng bé trắng trẻo, bụ bẫm, nom như một thiên thần bé nhỏ.
10:16 07-11-2018

Nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tôi thầm nghĩ đôi vợ chồng Uyên Vũ sống quá hạnh phúc, thực là trai tài gái sắc. Ấy mà sau tôi mới biết, ngay thời điểm ấy, hạnh phúc gia đình anh đã có mầm mống rạn vỡ. Đấy là năm đầu thập kỷ bảy mươi của thế kỷ 20. Tuy là thời chiến, Hà Nội vẫn có vẻ đẹp thơ mộng không thể dấu được.
 
Trong những người bạn văn thơ tôi quen ngày đó, thì thấy Vũ là ng­ười rất Hà Nội. Anh có mái tóc đen mượt, nụ c­ười mỉm, ánh mắt xa xăm và mơ mộng. Vũ ít nói. Nhưng nói rất có duyên. Phải thừa nhận, khi tập thơ “Hương cây – Bếp lửa” của Lưu Quang Vũ và Bằng Việt ra mắt bạn đọc, năm 1966, thì không khí văn chương của cánh trẻ tại Hà Nội  xôn xao hẳn lên. Mà không riêng gì tại Hà Nội, ở Hải Phòng, ở Quảng Ninh, ở Bắc Ninh, cánh anh em viết lách, hễ gặp nhau là bàn tán về tập thơ đó.
 
Tôi thấy khi ấy Vũ rực rỡ như ngôi sao băng. Vũ ra đường phố, ghé vào quán cà phê, hoặc vào thăm một trường học, có nhiều cặp mắt nữ sinh chỉ trỏ, xì xào “Nhà thơ! Nhà thơ đấy!..”. Xã hội khi ấy chưa có những ngôi sao cầu thủ bóng đá, chưa ồn ã ngôi sao ca sĩ, chưa vênh vang của các nhà doanh nghiệp. Một xã hội, lấy văn chương làm thước đo tài năng, hỏi làm sao mà không tốt đẹp?!
 
Nhưng trong con người Vũ đã có chút gì hồ nghi, chán chường. Chúng tôi thường tụ tập ở nhà Lâm bên phố Triệu Việt Vương. Lâm  làm nhân viên cho một nhà máy, nhưng yêu văn học, tự học tiếng Nga và dịch thơ Ê-xê-nhin. Bạn bè vẫn quý, gọi là Lâm râu.  Lâm rất chiều Vũ.
 
Căn phòng Lâm ở nhỏ, có kê chiếc giường cá nhân, một giá sách, một cái máy quay đĩa chạy kim và trên tường treo rất nhiều tranh. Vũ giở sổ tay đọc thơ cho chúng tôi nghe. Giọng Vũ nhỏ nhẹ, trầm trầm.
 
Anh lên xứ Đoài xa
 
Ba Vì mây trắng
 
Nhớ mặt em gầy sau lá mưa…
 
…Con bò gầy đói cỏ
 
Đi trên đồng mê man…
 
(Không đề)
 
Câu thơ chứa chất  cảm xúc bảng lảng, xót xa. Tâm trạng hoang mang, run rẩy.
 
Những bài thơ viết về tình yêu  quặn thắt, khác hẳn cái trạng thái trong trẻo, mê đắm thuở nào.
 
Muốn lên tàu đi đâu thật xa
 
Nhưng nhà ga đã sụp
 
Ngã tư nhớ em
 
Vừa thương vừa trách giận
 
Sao chân em dẫm đạp
 
Lên những gì tôi yêu.
 
(Ngã tư tháng chạp)
 
Rồi những câu thơ tả trần trụi thời cuộc. Chiến tranh, đạn bom, cái chết, và thân phận nhỏ bé của con người… Nó có gì rất khác những vần thơ hào hùng, hừng hực khí thế của lớp người ra trận.
 
Có những lúc tâm hồn tôi rách nát
 
Tôi biết làm gì, tôi biết đi đâu?
 
Thoạt đầu nghe Vũ đọc, chúng tôi chưa hiểu, chưa cảm hết, thấy có phần hoang mang. Nhưng rồi nghe lại, đọc lại, thì thấy có gì giằng rịt trái tim mình, mặc dù đôi lúc thấy buồn đến vữa cả người. Ấy mà vẫn không bỏ đi, vẫn có nhu cầu đọc lại, dù là đọc túm tụm với mấy bạn bè.
 
Tôi nhớ khuôn mặt Vũ khi ấy, vừa như thăm dò, vừa như hỏi. Rằng các bạn ơi, các bạn nghe thơ tôi thấy thế nào? Có được không? Hay chán ghét? Tôi viết thơ bằng trái tim  đang bị thương của tôi. Nó là ý nghĩ của tôi, là chính kiến của tôi. Thơ tôi đi lối riêng của tôi, các bạn có tiếp cận, có chấp nhận không?… Có một chút gì hoang mang trên khuôn mặt ấy. Có chút gì kiêu ngạo trên khuôn mặt ấy. Lại như muốn nói rằng, các bạn ơi, bây giờ các bạn chưa thích thơ tôi, rồi mai ngày các bạn sẽ phải tìm đọc lại thơ tôi. Vì tôi làm thơ bởi tôi yêu các bạn,  vì đất nước yêu thương nghẹn ngào của tôi!
 
Rõ ràng thơ Vũ những năm ấy, có một giọng điệu thật khác với các bè trầm bè bổng mà đài báo khi ấy đang cần. Cuộc chiến tranh còn quyết liệt. Đài, báo cần thơ để lớp người lính vững bước ra trận, chứ chưa cần thơ để người lính nghĩ suy, tính toán trước khi ra trận.
 
Chúng tôi không thể tin Vũ và Uyên chia tay nhau nhanh chóng thế. Mặc dù cuộc chia tay là điều tất yếu.
 
Căn phòng Vũ ở, mọi vật như đã đảo lộn. Bức tranh màu sáng hạ xuống, treo bức tranh mầu trầm. Lọ hoa không còn cắm hoa tươi. Duy chỉ có bài thơ “Tự do” của Pôn E-luya do Vũ sưu tầm ở đâu về, là căng treo quanh nhà. Bài thơ được viết chữ to, in trên nền giấy mầu xanh có minh hoạ chim hoa và các vì sao, dài như một tấm phướn, căng hiên ngang quanh căn phòng.
 
Trên chân trời
 
Ta viết tên em
 
Tự do!
 
Tự do là niềm khao khát, niềm an ủi với Vũ. Căn phòng nhỏ của Lâm râu ở Triệu Việt Vương, chiếc máy quay đĩa cổ lại phát lên bản nhạc của Mô-za, Su-be, Béc-tô-ven và Trai-cốp-xki… Những bản nhạc thơ mộng và dữ dội. Vũ ngồi lặng lẽ góc phòng, ôm mặt gục đầu trên đầu gối. Rồi Vũ ngửa mặt, tay vuốt ngược tóc, đôi mắt sáng bừng, xa xăm. Cái kim máy hát mòn, gãi trên đĩa than đã cũ xước, tạo âm thanh lạo xạo. Vũ đứng bật dậy, hai tay đút túi quần, đi loanh quanh trong căn phòng…

Hải Phòng những năm ấy, như một vùng đất đầy hấp dẫn với Vũ. Con sông loáng dầu mặt sóng, những con tàu kéo còi khê trầm. Những mái nhà, bức tường, ô cửa nghiêng bóng xuống dòng Tam Bạc. Những quán cà phê nghèo bên những bức tường đổ nát của đạn bom. Và bao nhiêu bạn bè viết văn làm thơ, vẽ tranh. Ấy là Thi Hoàng, Thanh Tùng, Hoàng Hưng, Đào Cảng, Nguyễn Tùng Linh, Thọ Vân, Đào Nguyễn…
 
Trong quán cà phê xơ xác,  Vũ chọn góc khuất,  ngắm nhìn và lặng lẽ nghĩ suy. Rồi Vũ viết thơ. Những câu thơ viết trên vỏ bao thuốc lá, trên tờ lịch xé bỏ. Bài thơ dài “Viết cho em từ cửa biển” là cả nỗi lòng xốn xang, chộn rộn của anh.
 
Những mảnh buồm như ngực anh gió táp
 
Những con tàu như hồn anh cuồng loạn
 
Chẳng bao giờ chịu ở với bờ yên
 
Và:
 
Như ngôi sao trên cột buồm trơ trọi
 
Anh nhìn vào bóng tối
 
Con tàu đêm nay đi về đâu
 
Nhớ đôi môi xót đau
 
Nhớ bàn tay đắm đuối
 
Có ai nói cho lòng ta hiểu nổi
 
Về cuộc đời ghê gớm ta yêu.
 
Những người thợ đánh cá, những người thợ bốc vác ở cửa cảng với đời sống lao động hăng say như cuốn Vũ vào dòng cảm xúc đời thường đáng yêu. Hình như nó làm anh quên bớt nỗi xót xa hạnh phúc gia đình  tan nát. Anh muốn giũ bỏ nỗi buồn cá thể, vươn tới, hoà nhập với cuộc sống đang sục sôi và náo động. Nhưng hình như chất thi sĩ yếu đuối của anh lại kéo anh ngó xuống.
 
Lưu Quang Vũ chầm bập với Hải Phòng, như muốn dấu sự hoang vắng trong tâm hồn anh. Hải Phòng độ ấy cũng đang là điểm lửa của cuộc chiến tranh phá hoại. Hình như Vũ muốn khẳng định sự nhập cuộc của mình. Giữa lúc Bằng Việt, Xuân Quỳnh, Đỗ Chu thường theo cánh quân này cánh quân kia vào mặt trận miền trong nóng bỏng, Vũ cũng như muốn nói “Tôi cũng vào mặt trận theo kiểu của tôi”.
 
Vũ lao vào hoàn chỉnh trường ca “Đất nước đàn bầu”. Vũ nói rằng đó là tình yêu của Vũ với đất nước, với nhân dân. Những câu thơ hồi hộp, phập phồng, đầy lo toan và có tính dự báo. Nó  vẫn  khác giọng điệu thơ trên báo chí đương thời.
 
Dạo đó, có nhiều bạn bè xì xào là thơ Vũ  buồn quá, nặng nề quá. Cẩn thận đấy Vũ ơi, kẻo lại mang vạ vào thân vì chữ nghĩa. Chúng tôi có được nghe, được đọc thơ Vũ, và có một chút hoang mang. Nhưng tôi tin rồi đến thời kỳ những bài thơ ấy sẽ được in ấn và đến với công chúng. Vũ thì không tuyên ngôn, tuyên bố gì, chỉ lặng lẽ ngồi, mắt nhìn hoang vắng. Thi thoảng, tợp một ngụm nước chè nhạt nguội ngắt. Rồi Vũ têm thuốc lào vào lõ điếu cầy và hút hơi dài. Buông điếu, Vũ nghiêng mặt nhả khói, không có vẻ sảng khoái, mà đầy chất phiêu liêu lịch lãm.
 
Bây giờ, những bài thơ trong sổ tay thơ của Vũ mà độ ấy cho là “phức tạp”, nay đã được công bố tất cả. Khi in trên giấy trắng mực đen, bình tĩnh đọc, thì thấy không chút gì “phức tạp” mà lại quá rõ ràng, quá trong sáng. Thơ Vũ đã nói thật tâm trạng Vũ. Tâm trạng ấy, nay đem giãi bày ở một thời điểm khác, không gian khác, môi trường khác, thấy nó hiện lên đầy đủ chân dung người thi sĩ buồn vui với cuộc đời.
 
Sau thời gian rời quân ngũ, công việc không ổn định, Vũ có nhu cầu  đi làm. Anh đã gõ cửa nhiều cơ quan, xin làm tạm một số việc, nhưng cũng chẳng đâu vào đâu cả. Vẽ áp phích, làm thợ kẻ chữ, đi bồi bục kệ triển lãm, làm nhân viên ở phòng tuyên truyền một cơ quan đường sắt,… Chỗ nào cũng được dăm tháng, rồi có thể Vũ chán họ, hoặc họ chán Vũ. Vũ là người ham làm việc, không phải là người ngại việc. Chỉ có điều, mọi việc hình như chưa phù hợp với Vũ.
 
Bí bách, Vũ phải đến gõ cửa xin việc cái tờ báo  mà tôi đang làm. Tôi nhớ đấy là buổi sáng mùa đông, hè phố xao xác gió. Như để tăng sự quyết tâm, Lưu Quang Vũ rủ Xuân Quỳnh đi cùng. Vũ vào gặp ông Tổng biên tập tờ báo tôi làm. Ông này là người trọng văn nghệ sĩ, khi nghe Vũ ngỏ ý xin vào làm việc, nhất là lại có Xuân Quỳnh bảo lãnh, ông phấn khởi lắm. Tuy nhiên thời bao cấp, ông Tổng biên tập cũng chả có đủ thẩm quyền để nhận người, vì chỉ tiêu lao động lại do cơ quan cấp chủ quản điều tiết.
 
 
Lưu Quang Vũ và vợ Xuân Quỳnh.

Lại thêm một lần lỡ hẹn. Chúng tôi ái ngại quá. Vũ lại thêm một lần buồn chán. Kéo nhau ra khỏi toà soạn ở phố Hàng Gai, chúng tôi tạt vào quán chè chén góc phố Tụ Tịch, nơi có nhiều người thợ tiện đang tiện gỗ. Phoi gỗ bay loạn xạ. Ngồi trên chiếc ghế đóng bằng gỗ ván thùng, Vũ nâng chén trà nóng trên tay, không uống, không nói, mắt nhìn mông lung.
 
Như để lấp đi sự buồn nản, Xuân Quỳnh nói “Mình lại đưa anh Vũ đi xin việc nơi khác!”. Tôi không biết nên nói điều gì, vì nếu có nói an ủi nhau lúc ấy cũng là thừa. Tôi chỉ thở dài.
 
Vũ trở về căn phòng chuồng chim trong ngôi nhà 96 phố Huế. Căn phòng hẹp, độ này thành rộng hoang vắng. Những bức tranh treo trên tường chuyển toàn gam màu vàng. Những cuốn sách xếp trên giá sách. Những trang giấy viết dở dang dập xoá. Ông phỗng, ông tiến sĩ giấy trên kệ sách đã chớm bạc màu, vẫn khoanh hai tay buồn lặng lẽ. Mấy tờ giấy trang kim  lả tả bay.
 
Đấy là thời Vũ viết nhiều thơ nhất. Thời mà thơ Vũ mở ra một dòng cảm xúc quặn thắt, mạnh mẽ nhất. Buồn chán, cô đơn, nhưng không bao giờ Vũ bi luỵ. Không chút gì hằn học và xỉa xói cuộc sống. Anh chỉ kêu lên nỗi buồn thương trong thơ…
 
Một bài thơ của Lưu Quang Vũ thời lận đận
 
Sau khi ra mắt tập thơ “Hương cây và bếp lửa” in chung với Bằng Việt, cuối những năm 1960, thơ Lưu Quang Vũ gần như không được in nữa mà chỉ phổ biến qua kênh chép tay hoặc truyền miệng. Những năm đó, Lâm Quang Ngọc và Nguyễn Khắc Phục khá thân với Lưu Quang Vũ nên năm 1971 khi lên tập trung chuẩn bị đi chiến trường khu 5 với chúng tôi, các anh đọc cho chúng tôi nghe nhiều bài thơ rất buồn và rất hay của anh Vũ thời anh thất sủng với truyền thống chính thống. Trong số đó có một bài thơ hết sức độc đáo mà sau này tôi không thấy có trong các tập thơ và di cảo thơ  của Lưu Quang Vũ. Bài thơ này tôi đã chép trong sổ tay thơ tôi đem vào chiến trường. Cuốn sổ tay đó sau này đã thất lạc, nhưng bài thơ tuyệt bút của Lưu Quang Vũ, bài thơ gần như có một không hai trong thơ Việt Nam ấy thì tôi vẫn nhớ. Đấy là bài thơ “Trò chuyện với bến sông”. Tôi xin ghi lại giới thiệu với bạn đọc để cùng nhớ anh Lưu Quang Vũ
 
Nguyễn Thế Khoa
CHIA SẺ ĐẾN BẠN BÈ: