HOTLINE: 0904 89 4444

Hoàng Sa - Mảnh đất thiêng liêng của Tổ quốc: Ngày máu đổ (Kỳ II)
(Phương Nam Plus) - Là nhân chứng may mắn còn sống sót sau trận hải chiến Hoàng Sa (1974), ông Nguyễn Văn Cúc (phường An Hải Bắc, Sơn Trà, TP. Đà Nẵng) vẫn nhớ như in những ngày máu đổ giữa trùng khơi.
14:48 15-03-2016


Bốn chiến hạm tham gia trận hải chiến Hoàng Sa 1974 của VNCH. Ảnh tư liệu

>> Kỳ I: Chủ quyền không thể tranh cãi

Lật lại những kỷ vật về một thời “chinh chiến” ở Hoàng Sa, ông Cúc lại rơm rớm nước mắt. Hình ảnh về Hoàng Sa và những đồng đội đã ngã xuống lại hiện về trong tâm trí, khiến ông nấc nghẹn. 


“Tôi ra Hoàng Sa ba lần với nhiệm vụ khảo sát, sửa chữa xây dựng đảo. Trong lần thứ ba, tôi ra đảo để lấy mẫu đất, khảo sát thực địa để làm sân bay. Cũng trong lần đó, Trung Quốc đã khởi binh đánh chiếm Hoàng Sa. 40 năm rồi, chưa lúc nào tôi quên ngày súng nổ ở Hoàng Sa”, ông Cúc kể lại. 

Theo ông Lưu Anh Rô - Tổng Thư ký Hội khoa học Lịch sử TP. Đà Nẵng thì: khi ra tiếp quản quần đảo Hoàng Sa tháng 4/1956 từ quân đội Pháp, Hải quân Việt Nam Cộng hòa (VNCH) đã phát hiện Trung Quốc bí mật chiếm đóng trái phép các đảo phía đông của quần đảo. 
 


Những nhân chứng may mắn sống sót sau trận hải chiến chụp ảnh lưu niệm tại cột mốc Hoàng Sa trong bảo tàng Đà Nẵng. Ảnh: Thụy Nhi



Lãnh đạo TP Đà Nẵng chụp ảnh chung với các chứng nhân Hoàng Sa. Ảnh: Thụy Nhi
 
Năm 1973, sau khi ký Hiệp định Paris, Hoa Kỳ rút quân và thiết bị của mình ra khỏi quần đảo Hoàng Sa. Lợi dụng việc đó, Trung Quốc càng gia tăng các hoạt động xâm nhập trái phép quần đảo Hoàng Sa. Dù chú tâm xây dựng bảo vệ Hoàng Sa nhưng lực lượng VNCH đóng trên Hoàng Sa rất yếu, chỉ còn một trung đội địa phương quân trấn giữ nhóm đảo Nguyệt Thiềm. Việc bảo vệ quần đảo Hoàng Sa trở nên khó khăn trước dã tâm của Trung Quốc. 
 
Để mở đầu cho kế hoạch gây chiến và đánh chiếm, ngày 11/1/1974 Trung Quốc đột ngột ra Tuyên bố phản đối việc chính quyền VNCH điều chỉnh sáp nhập quần đảo Trường Sa vào xã Phước Hải (quận Đất Đỏ - tỉnh Phước Tuy, tên gọi dưới thời VNCH) của Việt Nam. 

“Đây là điều vô lý vì rõ ràng, Trung Quốc không có bằng chứng lịch sử và pháp lý xác thực nào để yêu sách chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa”, ông Rô nói. 

Ngay lập tức chính quyền VNCH bác bỏ, một lần nữa khẳng định chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Không có bất kỳ chứng cứ lịch sử nào đối với hai quần đảo Hoàng Sa –Trường Sa nên vào ngày 15/1/1974, Trung Quốc triển khai lược lượng hải quân mạnh cưỡng chiến Hoàng Sa. 

Với nhiều tàu chiến được ngụy trang thành tàu đánh cá và có phi cơ yểm trợ, Trung Quốc liên tục khiêu khích hải quân VNCH. Trước tình thế đó, Bộ Tư lệnh Hải quân VNCH đã điều động tuần dương hạm Lý Thường Kiệt đến Hoàng Sa để tuần phòng và canh chừng thì phát hiện hai chiến hạm của Trung Quốc gần đảo Cam Tuyền. 

Tại đây, Trung Quốc đã chiếm đóng trái phép, cắm cờ tại các đảo Quang Ảnh, Hữu Nhật... Nhận được tin báo khẩn cấp, Bộ Tư lệnh Hải quân Việt Nam Cộng hòa tiếp tục điều động khu trục hạm Trần Khánh Dư, tuần dương hạm Trần Bình Trọng, hộ tống hạm Nhật Tảo ra tăng cường, sau đó đổ bộ lên các đảo hạ cờ của Trung Quốc. 

Ông Cúc nhớ lại: “Thời điểm đó căng thẳng lắm vì tàu Trung Quốc liên tục khiêu khích và uy hiếp. Đoàn của chúng tôi lúc đó đã hoàn tất công việc, chuẩn bị lên tàu hải quân để trở về đất liền nhưng bị tàu của Trung Quốc liên tiếp ngăn cản. Do đó, chúng tôi được đưa trở lại đảo Hoàng Sa, hôm đó là ngày 18/1/1974”. 
 
Nhấp ngụm nước trà, ông Cúc kể tiếp: Trong những ngày 17 và 18/ - 1, Trung Quốc tăng cường lực lượng, cố tình khiêu khích lực lượng giữ đảo. Các chiến hạm của họ tiến sâu vào hải phận phía Tây quần đảo Hoàng Sa. VNCH cũng điều nhiều chiến hạm đến bảo vệ quần đảo Hoàng Sa. Trận hải chiến lớn nhất và dữ dội nhất giữa Hải quân VNCH và Hải quân Trung Quốc đã nổ ra vào sáng ngày 19/1/ - 1974. 

“Những người lính trên đảo đã chiến đấu dũng cảm, nhiều người hy sinh. Nhưng trước lực lượng áp đảo của Trung Quốc, VNCH đã không giữ được Hoàng Sa”, ông Cúc ngậm ngùi.

Ngày 20/1, bốn phi cơ MiG-21 và MiG-23 của Trung Quốc oanh tạc các đảo Cam Tuyền, Vĩnh Lạc và Hoàng Sa... Tiếp đó, binh lính Trung Quốc đổ bộ tấn công các đơn vị đồn trú của VNCH trên các đảo. Hoàng Sa bị chia cắt khỏi đất mẹ từ ngày đó. 

“Trong trận hải chiến, đứng trên đảo, chúng tôi nghe thấy tiếng đại bác và nhìn thấy được tàu Hải quân VNCH đang đánh nhau với tàu Trung Quốc. Không lâu sau, lính Trung Quốc bắt đầu ồ ạt tràn lên đảo. Các chốt lính giữ đảo không thể chống cự được nên bị quân giặc bắt giữ”. 

Ông Cúc nói tiếp: “Tôi chạy ra trốn trong lùm cây, với ý định chờ đến đêm thì dùng xuồng bơi thoát ra khỏi đảo. Nhưng khi mặt trời vừa tắt thì bị tụi lính trinh sát phát hiện, bắt giữ. Khi chiếm đảo, lính Trung Quốc ra sức đào công sự vì sợ quân VNCH sẽ tái chiếm đảo. Sau đó, chúng còn đập phá bia chủ quyền, đào các mộ người Việt chôn tại đây, chúng cố tình xóa các di tích người Việt trên quần đảo Hoàng Sa.
 
Sau khi bị bắt, ông Cúc bị đưa về giam giữ ở Quảng Đông. “Cùng bị bắt giữ với chúng tôi còn có một người Mỹ. Chúng mang đến giấy, bút rồi nói chúng tôi viết ra giấy khẳng định Hoàng Sa của Trung Quốc. Nhưng anh em cương quyết không viết, bởi Hoàng Sa là của Việt Nam”, ông Cúc kể. 
 
Một tháng sau, ông Cúc cùng những người khác được trao trả về Việt Nam. Dù may mắn sống sót sau trận hải chiến nhưng những người như ông Cúc luôn đau đớn và uất nghẹn khi chứng kiến mảnh đất thiêng liêng của Tổ quốc rời xa đất mẹ. 

Kỳ tới: Khắc khoải Hoàng Sa
 
Thụy Nhi
CHIA SẺ ĐẾN BẠN BÈ: