HOTLINE: 0904 89 4444

Người Việt Nam đầu tiên làm báo trên đất Mỹ đã từng ở Đồng Tháp
(Phương Nam Plus) - 43 năm đã trôi qua kể từ khi cuộc chiến tranh chống xâm lược nhằm thống nhất đất nước của nhân dân ta giành được thắng lợi hoàn toàn. Ngày nay, giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã xây dựng được quan hệ đối tác toàn diện. Trong khung cảnh ấy, nhiều nhà báo của 2 quốc gia có điều kiện qua lại để tác nghiệp.
15:50 20-06-2018
 
Trần Trọng Khiêm (1821-1866)

Có một câu hỏi thú vị trong giới: Ai là người Việt Nam đầu tiên làm báo trên đất Hoa Kỳ?

Tìm hiểu để trả lời câu hỏi trên, được biết người ấy đã có quãng đời oanh liệt đáng được tôn kính ở Đồng Tháp.

Vào đầu thập niên 1870, vua Minh Mạng đã cử sứ thần Bùi Viện dẫn đầu phái bộ sang Hoa Kỳ cầu viện. Chuyến đi bằng đường thủy theo ngả Hồng Kông mất chừng 3 tháng, vị sứ thần triều Nguyễn đã gặp được Tổng thống Hoa Kỳ khi đó là Ulysses Simpson Grant. Lúc đầu, phía Hoa Kỳ phát tín hiệu thuận, nhưng sau đổi ý. Lâu nay, nhà ngoại giao Bùi Viện vẫn được nhiều người coi là người Việt Nam đầu tiên đặt chân tới Hoa Kỳ.

Nhưng thực tế, trước đó 20 năm, vào khoảng 1849, một người có quê ở vùng Đất Tổ đã tới California - khi miền đất này vừa mới sáp nhập vào Hợp Chủng Quốc, thành bang thứ 31. Người ấy là cụ Trần Trọng Khiêm (1821 - 1866) quê ở làng Xuân Lũng (Sơn Vi, Lâm Thao, Phú Thọ).

Để có cứ liệu tin cậy, người viết bài này đã tìm hiểu các văn bản nói về báo Daily Evening vào thời điểm 1850 - 1853 (một tờ báo của vùng California); về tác phẩm California 1850 của Jamice Marschver; về cuốn sách La rueé vers l or (Đổ xô đi tìm vàng) của nhà văn người Pháp René Lefebre (nhà xuất bản Dumas, Lyon, 1937); tham khảo cuốn tiểu thuyết lịch sử Con đường thiên lý (1972) của nhà nghiên cứu uy tín Nguyễn Hiến Lê; Từ điển Nhân vật lịch sử Việt Nam (của Nguyễn Quốc Thắng và Nguyễn Bá Thế). Đồng thời, việc tra cứu về lịch sử cận đại của Hoa Kỳ, chỉnh lại cho đúng và hợp lý các số liệu về thời điểm hoạt động cũng như tuổi của cụ Trần Trọng Khiêm cũng đã được thực hiện.

Sinh năm Tân Tỵ (1821) trong gia đình khoa bảng (có người anh là nhà nho Trần Mạnh Trí), cụ Trần Trọng Khiêm có tư chất thông minh, sức vóc cường tráng, tính cách mạnh mẽ, ngay thẳng. Năm 18 tuổi, cụ đã học đủ các môn khoa cử, nhưng không đi thi cao hơn theo đường quan trường.

Năm 20 tuổi, cụ Khiêm lập gia đình với một phụ nữ họ Lê cùng trong tổng. Cưới nhau được gần 3 năm, nhưng vợ chồng vẫn chưa có con. Năm 1843, do thâm thù từ trước không chiếm được người phụ nữ họ Lê về làm lẽ, tên chánh tổng địa phương đã hãm hại bà cùng người lão bộc, rồi đốt nhà phi tang.

Sau khi giết tên chánh tổng gian ác vào đúng ngày giỗ đầu cụ bà họ Lê, trả xong mối thù cho vợ, cụ xuống Phố Hiến (tỉnh Hưng Yên), với tên gọi Lê Kim, cụ xin làm việc trên một tầu buôn ngoại quốc. Công việc trên tầu đưa cụ qua nhiều nước.

5 năm làm việc trên tầu buôn (kể từ năm 1844), Lê Kim học nói được 4 thứ tiếng (Anh, Pháp, Hoa, Hà Lan). Buổi sáng một ngày của năm 1849, Lê Kim đặt chân tới Hoa Kỳ ở miền Saint Louis bên bờ sông Mississipi. Đến New Orleans thuộc tiểu bang Lousiane, cụ gặp nhiều người di cư đi tìm miền đất hứa: người da trắng châu Âu, người Hoa, thổ dân Da Đỏ, Mễ Tây Cơ (Mehico), Trung Cận Đông... Trong số họ, có một người đến từ Gia Nã Đại (Canada) tên là Maxk mang tư chất thủ lĩnh. Maxk đứng ra tập hợp được 60 người lập thành đoàn đi Miền Tây tìm vàng. Nhờ biết nhiều thứ tiếng, lại nhanh nhẹ, cử chỉ đĩnh đạc đường hoàng, Lê Kim được Maxk chọn làm người thông ngôn kiêm trợ lý.

Chuyến đi vô cùng gian khổ, nhiều người đã chết trên đường bởi đói khát, tật bệnh, thú dữ cùng những tính xấu nẩy sinh của con người khi gần với vàng. Sau khi tách đoàn (số đông đi về phương bắc), nhóm hướng về phương nam chỉ còn 8 người (trong đó có Maxk và Lê Kim).

Đồn Sutter bên bờ sông Sacramento là đồn nổi tiếng và lớn nhất vùng California khi ấy. Tên của người chỉ huy (Đại úy Sutter) đến từ Canada được lấy đặt cho đồn. Thấy Lê Kim là người châu Á, biết nhiều thứ tiếng, phong cách lịch thiệp, Sutter rất thiện cảm, cho đi thăm cơ sở của mình. Nhờ đó, Lê Kim biết được cách xây đồn cùng tổ chức bố phòng.

Sớm nhận thấy mặt trái của vàng cùng những hệ lụy của xã hội hỗn canh hỗn cư, 2 năm sau, vào năm 1850, Lê Kim đi tìm công việc mới. Lúc đầu làm cộng tác viên chạy tin bài cho các tờ báo địa phương: Alta California, Morning Post; sau đó, được nhận vào làm trong Tòa soạn báo Daily Evening với bút danh Lee Kim. Trong các bài viết, ký giả Lee Kim thường miêu tả phong cảnh thiên nhiên hoang dã ở Miền Tây, cuộc sống cùng cực của dân đào vàng, đồng thời phê phán tác hại của vàng, cảnh báo những bi kịch xã hội trong tương lai...

Như vậy, cụ Trần Trọng Khiêm là người Việt Nam đầu tiên đặt chân tới nước Mỹ và cũng là ký giả đầu tiên của nước ta tới tác nghiệp ở đây.

Tháng 11/1853, lần cuối cùng người ta thấy Lê Kim ở vùng Berkeley thuộc đất Hoa Kỳ.

Quá mệt mỏi với cuộc sống hỗn loạn nơi đất khách, nỗi nhớ quê nhà luôn cánh cánh trong lòng, cụ Trần Trọng Khiêm quyết định hồi hương. Đến Hồng Kông, cụ nhập tịch Trung Quốc, rồi về Việt Nam trong thân phận người Minh Hương (người Hoa di cư) với họ tên là Lê Kim. Năm 1854, Lê Kim về tới Nam bộ, liền bắt tay ngay cùng bạn bè khai khẩn đất hoang lập nên ấp Hòa An thuộc phủ Tân Thành, tỉnh Định Tường (nay là Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp).

Cụ Khiêm lập gia đình với người phụ nữ Nam bộ họ Phan, sinh hạ được 2 người con trai đặt tên là Lê Xuân Lãm và Lê Xuân Lương. Lấy chữ Xuân để nhớ về làng Xuân Lũng.

Công việc và đời sống đang được dần dần ổn định thì thực dân Pháp đánh chiếm 3 tỉnh miền Tây Nam kỳ (1864) gây ra biết bao đau thương, tang tóc. Cụ đã cùng nhà yêu nước Thiên Hộ Võ Duy Dương chiêu mộ được tới hàng ngàn nghĩa binh, lập căn cứ chống Pháp ở Đồng Tháp Mười. Nghĩa quân có liên hệ với các phong trào yêu nước của Trương Công Định, Thủ Khoa Huân... Tài bắn súng học được của các cao-bồi thực thụ ở Miền Tây Hoa Kỳ, kinh nghiệm xây đồn đắp lũy của Đại úy Sutter được vận dụng. Vốn ngoại ngữ được dùng vào việc binh vận. Nghĩa quân đã đánh nhiều trận ở Cai Lậy, Mỹ Trà, Cao Lãnh... Về sau, viên tướng người Pháp là De Lagrandiere đã dùng lực lượng lớn tấn công vào Đồng Tháp Mười. Nghĩa quân bị tổn thất nặng nề rồi thất bại. Không để mình bắt, rơi vào tay giặc, nhà lãnh đạo nghĩa quân Lê Kim đã tuẫn tiết vào năm 1866, hưởng dương 45 tuổi.

Thi hài của cụ được nghĩa quân mai táng ở Gò Tháp. Trên bia mộ có ghi: Lòng trời không tựa, tấm gương tiết nghĩa vì nước quyên sinh/Chính khí nêu cao, tinh thần hùng nhị còn truyền hậu thế.

 
Chu Huy Sơn
Theo Báo Đồng Tháp
CHIA SẺ ĐẾN BẠN BÈ: