HOTLINE: 0904 89 4444

Tư liệu văn học: Nhà văn Đặng Thai Mai bố vợ của ba vị tướng!
Giáo sư, Nhà nghiên cứu, Nhà văn Đặng Thai Mai (1902 - 1984), chẳng những là một học giả uyên thâm, một trí thức yêu nước, một nhà giáo mẫu mực mà còn là người cha của 6 giáo sư và phó giáo sư, bố vợ của ba vị Tướng lừng danh, là ông ngoại và ông nội của hàng chục tiến sĩ và cử nhân...
00:08 03-07-2017

Đặng Thai Mai là hội viên sáng lập của Hội Nhà văn Việt Nam (1957). Ông đã vinh dự được nhận Huân chương Hồ Chí Minh (1982); Giải A giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1986 (cuốn Hồi ký); Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật (đợt I, 1996).

Quê ở làng Lương Điền (nay là Thanh Xuân) huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, Đặng Thai Mai sinh ra trong một gia đình có truyền thống hiếu học và yêu nước: ông nội là Đặng Thai Mai đỗ cử nhân khai khoa, thường được dân trong vùng gọi kính cẩn là Cụ Huyện. Cụ đã khảng khái từ quan, về nhà dạy học và tìm cách “đánh Tây”. Thân sinh là cụ Đặng Nguyên Cẩn, đỗ Phó bảng, làm Đốc học, tham gia Duy Tân hội của Phan Bội Châu, bạn thân của các bậc chí sĩ như Phan Chu Trinh, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng... Chú ruột là Đặng Thúc Hứa, đỗ tú tài đầu xứ, là người giao thiệp rộng, quen biết nhiều, từng giúp cụ Phan Bội Châu tổ chức phong trào Đông Du; cô ruột là Đặng Quỳnh Anh, lão thành cách mạng, từng hoạt động lâu năm tại Thái Lan...
 
Bởi cả gia đình đều tham gia kháng Pháp nên không tránh khỏi bị giặc trả thù, khủng bố; lên bảy tuổi, Đặng Thai Mai đã phải sống với bà nội, vì cha bị Pháp bắt đi đày. Lớn lên, chàng thanh niên Đặng Thai Mai đã hăng hái hoạt động xã hội từ rất sớm: Năm 1928, sau khi tốt nghiệp trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương, tham gia phong trào đòi “ân xá” cho Phan Bội Châu, truy điệu Phan Chu Trinh, gia nhập đảng Tân Việt... Đặng Thai Mai làm giáo sư cho Trường Quốc học Huế. Khi đảng Tân Việt bị tan vỡ, ông bị Pháp kết án một năm án treo, rồi vì tham gia phong trào Cứu tế đỏ mà bị tù ở Huế.
 

Là người theo chủ nghĩa dân tộc, yêu nước và nhân văn, nhưng Đặng Thai Mai đã chuyển sang chủ nghĩa cộng sản rất tự nhiên như bao anh em, bạn bè cùng thời. Ông từng tham gia phong trào mặt trận bình dân, biên tập các báo tiếng Pháp của Đảng Cộng sản Đông Dương và là một rong những người sáng lập Hội Truyền bá Quốc ngữ... Thậm chí năm 1939 Đặng Thai Mai còn được Đảng Cộng sản Đông Dương giới thiệu ứng cử vào Viện Dân biểu Trung kỳ.
 
Tuy nhiên, nhiều thế hệ học trò lại nhớ đến Đặng Thai Mai trong tư cách một giáo sư văn học, một nhà nghiên cứu xuất sắc của Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, không phải vì ông từng đảm nhiệm những trọng trách như Hội trưởng Hội Văn hóa Việt Nam, Giám đốc trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Giám đốc Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội hay vì nhiều năm là Viện trưởng Viện Văn học, Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học - Nghệ thuật Việt Nam... mà là vì chính vốn kiến thức uyên bác của ông.
 

Đặng Thai Mai đến với văn học rất muộn. Tuy được học chữ Hán, chữ Quốc ngữ, chữ Tây từ bé, lại ham đọc và nhớ rất nhiều thứ sách đông tây, kim cổ... nhưng khởi đầu Đặng Thai Mai không có ý định viết văn. Ông chỉ thực sự cầm bút vì sự đòi hỏi bức xúc của xã hội và yêu cầu của công việc tuyên truyền cho Cách mạng. Trong cuộc đời cầm bút, Đặng Thai Mai đã cho xuất bản tới mười bốn cuốn sách. Hầu hết chúng đều thuộc dạng tác phẩm nghiên cứu và “phổ biến tri thức”: Văn học khái luận, Triết học phổ thông, Tạp văn trong văn học Trung Quốc ngày nay, Giảng văn Chinh phụ ngâm, Chủ nghĩa nhân văn dưới thời kỳ văn hóa Phục hưng, Lịch sử triết học phương Tây, Lịch sử văn học Trung Quốc, Văn thơ Phan Bội Châu và Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ Hai mươi... Đặc biệt là tác phẩm Trên đường học tập và nghiên cứu từng một thời được coi như loại sách “gối đầu giường” cho các văn nghệ sĩ sáng tác. Đặng Thai Mai cũng là một trong những nhà văn Việt Nam đầu tiên say mê dịch Lịch sử Triết học phương Tây, dịch Lỗ Tấn và Tào Ngu...
 
Về đời tư, Đặng Thai Mai lập gia đình năm 1926, vợ ông, bà Hồ Thị Toan là con gái cụ Hồ Phi Thống (một nhân sĩ yêu nước, tác giả của cuốn sách “Nhân đạo quyền hành”, rất nổi tiếng trước năm 1945). Ông bà sinh hạ được 6 người con, trong đó có 5 gái và 1 trai, tất cả đều có học hàm cao: Phó Giáo sư Sử học Đặng Bích Hà (sinh năm 1928); Phó Giáo sư Văn học Pháp Đặng Thị Hạnh (sinh năm 1930), Nhà giáo nhân dân, Giáo sư Văn học Việt Nam Đặng Thanh Lê (sinh năm 1932); Nhà giáo Ưu tú, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Văn học phương Tây Đặng Anh Đào (sinh năm 1934); Nhà giáo Ưu tú Phó Giáo sư, kiến trúc sư Đặng Thái Hoàng (sinh năm 1939) và Phó Giáo sư, Tiến sĩ Sinh vật học Đặng Xuyến Như (sinh năm 1945).
 
Đặc biệt, trong bốn “chàng rể hiền” của Giáo sư, Nhà văn Đặng Thai Mai, thì có đến ba người mang quân hàm tướng: Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Trung tướng Phạm Hồng Cư và Trung tướng Phạm Hồng Sơn.

(Còn nữa)
 
Đặng Vương Hưng
CHIA SẺ ĐẾN BẠN BÈ: