HOTLINE: 0904 89 4444

Đặc điểm giọng điệu thơ Quốc âm Đường luật của nhà chí sĩ cách mạng Huỳnh Thúc Kháng
Xin cảm ơn các đồng chí đã cho tôi cái may mắn được nói về Cụ Huỳnh Thúc Kháng, người mà theo tôi là tấm gương sáng nhất của văn học yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX, đúng vào năm thứ 70 ngày mất của Cụ.
15:09 17-10-2017
Cụ Huỳnh Thúc Kháng (1876 – 1947) là nhà nho lớp cuối cùng đã chuyển sang tầng lớp những nhà chí sĩ yêu nước chống thực dân Pháp, trong lúc hoạt động cách mạng lại dứt khoát bước vào con đường cách mạng thời đại Hồ Chí Minh.

Cụ đã có những đóng góp quan trọng cho văn hóa và lịch sử Việt Nam.
 

Bác Hồ, cụ Huỳnh Thúc Kháng trong Chính phủ đầu tiên nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (2/3/1946).
 
Không chỉ là nhà chí sĩ cách mạng uy tín vang dội cả ba miền Trung, Nam, Bắc, Huỳnh Thúc Kháng còn là cây bút xuất sắc trên diễn đàn báo chí và văn học yêu nước đầu thế kỷ XX. Cụ là chủ nhiệm kiêm chủ bút báo Tiếng Dân, tờ báo trong suốt hơn 10 năm đã là thứ vũ khí sắc bén để Cụ hiên ngang nói lên tiếng Dân, đòi Dân chủ, Dân quyền.
 
Văn thơ của Cụ nói chung, thơ Đường luật của Cụ nói riêng, không nằm ngoài trận tuyến hiên ngang ấy, kể cả thơ viết lúc tự do cũng như thơ viết trong tù. Riêng mảng thơ Đường luật quốc âm là cống hiến đầy giá trị cả về nghệ thuật và tư tưởng của Cụ cho dòng văn học yêu nước và cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX.
 
Nói tới thơ Đường luật Huỳnh Thúc Kháng là nói tới loại thơ Đường luật đích thực: nghiêm chỉnh, mẫu mực, trang nghiêm, cổ điển.
 
Nói tới thơ Đường luật Huỳnh Thúc Kháng cũng là nói tới một nhà cách tân đầy sáng tạo, một tinh thần dân tộc trong thể thơ vay mượn nước ngoài.
 
Nói tới thơ Đường luật Huỳnh Thúc Kháng là nói tới một giọng điệu thơ đặc sắc, giọng điệu làm nên phong cách rất riêng của nhà chí sĩ.
 
Trong cuộc hội thảo này, tôi xin được gửi tới Ban tổ chức và quý vị đại biểu bản tham luận: Đặc điểm giọng điệu thơ Đường luật quốc âm của nhà chí sĩ cách mạng Huỳnh Thúc Kháng.
 
Và chỉ xin phép nói đôi điều về đặc điểm ấy.      
                                                                                                                                                 
                                         ************************ 

Nói tới thơ quốc âm Đường luật của Huỳnh Thúc Kháng là nói tới một giọng điệu thơ đặc biệt: da diết, cứng cỏi, có lý, có tình, thể hiện tập trung nhất, đặc sắc nhất ở đặc điểm: giọng điệu thanh nghị, một giọng điệu bao trùm, xuất hiện ở hầu hết các tác phẩm, làm nên phong cách riêng của nhà chí sĩ.
 
Thanh nghị: theo quan niệm của Bội văn vận phủ (Trung Quốc) là nghị luận để làm sáng rõ quan điểm của mình (thanh), như ta thường nghe nói: “Lời lời thanh nghị, hàng hàng gấm thêu”.
 
Tính chất của thanh nghị là không phải để nói với mình như kiểu văn chương hướng nội, mà là nói thành tiếng, nói có thanh, bình luận với người đối thoại, dùng tiếng nói của mình thảo luận với người khác để làm minh bạch quan điểm của mình (nghị)
 
Nói tới thanh nghị là nói tới tính hướng ngoại.
 
Thơ của nhà chí sĩ cách mạng Huỳnh Thúc Kháng là loại thơ có giọng điệu thanh nghị thi như vậy. Đó là điểm đặc trưng, bao trùm.
 
Đọc thơ Huỳnh Thúc Kháng, ta như luôn thấy nhà học giả đang đối thoại với ai đó, một độc giả vô hình hay một nhân vật đang trước mặt.
 
Có lúc nói với người hiểu mình (Chơi cửa Thuận An, Khóc cụ Giải Huân, Miếu Trần Hưng Đạo, Đưa bạn đi Pháp, Đêm đi đường).
 
Có lúc nói với địch thủ của mình (Vịnh Kiều, Cá bỏ giò cua, Trò đời, Biết người, Cảm đời, Tiền, Ông Táo).
 
Có lúc lại như nói với người đang u mê để thức tỉnh người ta (Trăng sông Hương, Dạo thuyền trên sông Hương, Tháp Chiêm Thành).
 
Có lúc lại như đang dùng lời nhẹ nhàng mà thuyết phục...
 
Giọng thanh nghị hợp với tính “hay cãi” của người Quảng Nam đã khiến lời phẩm bình bằng thơ của Cụ Huỳnh có một giọng điệu rất riêng mang tính luận chiến  sắc bén. Thơ là thơ, nhưng không có tính chất giãi bày cảnh ngộ, phô diễn tâm tình mà luôn luôn là tiếng nói trữ tình sáng suốt của lý trí và trí tuệ với giọng điệu hết sức đa dạng.
 
Có lúc thì nhẹ nhàng phủ dụ:
 
                   Nghìn năm nước cũ hồn sao vắng
 
                   Mấy mảnh bia tàn chữ chửa phai...
 
                   Lời già xin bảo bà con biết
 
                   Một gánh non sông để đợi ai?
 
(Đi Bắc Kỳ)
 
Có khi thì gọi lay, thức tỉnh:
 
                   Hỏi gương kim cổ trăng không nói
 
                   Xót cuộc tang thương nước cứ trầm
 
Say ngủ kìa ai, ai tỉnh chửa?
 
                   Chuông chùa còn gióng tiếng Nam âm.
 
                                                (Dạo thuyền trên sông Hương)
 
Có lúc lại châm biếm để khuyên răn:
 
                   Xưa nay cua cá vẫn hai giòng
 
                   Một giỏ vì đâu khéo bỏ chung...
 
                   Trật vảy trày vi rồi mới biết
 
                   Một mình một vực sướng hơn không!
 
                                                (Cá bỏ giỏ cua)
 
Lại có lúc không cần gọi tên mà như đã chỉ đích danh vị quan đầu triều đương chức vốn được Tây ban cho vì xu nịnh và làm kẻ chỉ điểm trung thành. Trong trường hợp này, giọng điệu thanh nghị của Cụ Huỳnh thể hiện ở lời mỉa mai thâm thúy sâu cay, bằng ngụ ngôn dân gian mà lật tẩy được bản chất giấu mặt nguy hiểm của nhân vật:
 
Cục đất ngày xưa có thế nào

Ngày nay Ông Táo chức quyền cao

Khéo mang mặt lọ vênh vang thế!

Chẳng hổ lưng còng khúm núm sao?

Ba bữa giữ ngày cho địa chủ

Quanh năm kiếm chuyện mách thiên tào

Một mai đất lại hoàn ra đất

Cái đẫy xôi chè giá đáng bao!
 
                                                (Ông Táo)
 
Thơ của Cụ đúng là ngọn bút sắt.
 
Bởi vậy, trong thơ Cụ không có giọng ngậm ngùi, hoài cảm, hay nuối tiếc, bâng khuâng, kể cả khi một mình vọng trông về quá khứ. Cái nhìn ngược về quá khứ cũng chỉ để mài sắc thêm cái chí, khí, tình trong hiện tại chứ không phải vì buồn thương hay chạy trốn thực tại:
 
                   Kìa máu tổ tiên gành nhuộm đỏ
 
                   Nọ bia đất nước mực còn đen
 
                   Mênh mông bể khổ hồn Tinh Vệ
 
                   Giéo giắt ngành khuya tiếng đỗ khuyên
 
                   Nhân vật nghìn xưa non nước ấy
 
                   Đã từng dẹp Tống lại bình Nguyên.
 
                                                (Đi xe từ Nghệ ra Bắc)
 
Vậy nên, giọng điệu thanh nghị tự nó đã thể hiện đúng bản sắc cá tính, bản chất con người, và tự thân tư tưởng của Huỳnh Thúc Kháng.
 
Ngôn ngữ thơ của Cụ là ngôn ngữ xuất phát từ hành động chứ không phải xuất phát từ tư tưởng thuần túy. Bởi Cụ là con người hành động nên thơ của Cụ cũng là thơ hành động. Hơi văn, hơi thơ mãnh liệt là sự thể hiện ra cái chí, cái khí, cái tình mãnh liệt. Giọng điệu thơ vì vậy không ngân nga, tiêu sái, không lãng đãng, mơ màng mà luôn là giọng điệu của những rung động tình cảm cháy bỏng, sục sôi mãnh liệt:
 
                   Xua gió khoát mây hồn một nước
 
                   Nghiêng trời chuyển đất chuyện năm châu.
 
                                                (Đệ lục chu niên)
 
                   Âu Á un chung ngòi bút sắt
 
                   Đá vàng ghi chắc tấm lòng son
 
                   Cuộc năm châu mới xôn xao sóng
 
                   Nước mấy triều xưa quạnh quẽ hồn
 
(Đệ thất chu niên)
 
                             Tìm trên giấy trắng đâu là nước
 
                             Giữ tấm lòng son chịu với trời
 
                             Càng thọ lại càng thêm lịch duyệt
 
                             Đông Tây bốn mặt ngọn triều sôi.
 
                                                          (Đệ bát chu niên)

Bút sắt của Cụ Huỳnh là ngọn bút đấu tranh kiên quyết, cứng cỏi, là hình ảnh của cái đẹp mạnh mẽ: Một Cụ nhà nho biết cầm võ khí mới. Cầm ngọn bút sắt, kẻ thù không bẻ gãy được. Đó là thái độ tự chủ, nắm lấy thời đại mới để chủ động phát huy sức mạnh của mình, chứ không phải kiểu “Á ớ u ơ ngọn bút chì”, đón thời Tây một cách thụ động, với thứ vũ khí chưa bẻ đã gãy.
 
Câu thơ “Âu Á un chung ngòi bút sắt” lại cho thấy ở Cụ một tư duy chính trị sắc sảo. Cụ rất có ý thức về sự hội nhập với thế giới, tiến kịp bước thời đại, dùng ngòi bút sắt để đấu tranh đưa châu Á phát triển. Sự thực Cụ đã dùng vũ khí của châu Âu, của phương Tây để đấu tranh cho lý tưởng của châu Á, của phương Đông. Cụ không dùng vũ khí phương Đông để đánh phương Tây mà dùng chính vũ khí của phương Tây (nguyên lý Dân chủ, Dân quyền) để đánh phương Tây. Đó là cái cao tay của Cụ.
 
Mặt khác, Cụ luôn đặt vấn đề dân tộc trong bình diện thế giới chứ không bó hẹp như tư tưởng bế tắc của các thân sĩ Cần Vương. Đó là cái lớn của Cụ. Chính bởi vậy, rất khó tìm thấy cái bi quan trong thơ của Cụ nói chung, trong giọng điệu của thơ Cụ nói riêng, cho dù Cụ đơn độc. Bài Đêm đi đường là một minh chứng:
 
                   Một mình quạnh quẽ lúc đêm trường
 
                   Trò chuyện cùng ai lối giữa đường
 
                   Xô xát canh tàn muông sủa bóng
 
                   Nỉ non vùng cỏ dế kêu sương
 
                   Mây ghen trăng sáng giăng từng lớp
 
                   Gió thổi đèn lu khuất ngọn tường
 
                   Gắng gắng thẳng dằm ta bước tới
 
                   Góc trời đã ló bóng dương quang.
 
Hai câu thơ cuối toát lên một niềm lạc quan tin tưởng ở tương lai.
 
Về mặt quan hệ với chủ thể, giọng điệu biểu thị bản chất của con người. Giọng điệu mỗi người nói chung, giọng thơ mỗi người nói riêng rất khác nhau, vì con người không ai giống ai. Thơ Huỳnh Thúc Kháng có cái buồn lớn lao, mà giọng điệu thơ vì thế không có sự ngậm ngùi than vãn. Những bài như Khóc cụ Tây Hồ,  Khóc cụ Giải Huân, Lũy Đào Duy Từ, Miếu Trần Hưng Đạo, Khóc Trần Quý Cáp và hầu hết các bài thơ của cụ đều có sắc điệu chung như vậy – một sắc điệu trữ tình cao cả, mạnh mẽ.

Đó là bản sắc riêng thuộc về tính cách con người.
 
Cái khung Đường luật khuôn mẫu, công thức cũ nghìn đời không làm chìm đi, mờ đi đường nét cá tính, tính cách thơ của nhà chí sĩ mà ngược lại cái chất đặc biệt của giọng điệu thanh nghị lại càng trở nên phong phú và đặc sắc.
 
Càng đi vào các bài thơ cụ thể của Huỳnh Thúc Kháng, ta càng thấy rõ thơ của Cụ không hướng nội để chỉ “một mình mình biết, một mình mình hay”, không hướng vào bên trong nội tâm để chỉ “một mảnh tình riêng ta với ta”, mà trong thế giới thơ ấy luôn luôn có một đối tượng được hướng tới, nhưng là đối tượng nhận thức chứ không phải đối tượng trữ tình, dù thơ của Cụ không thiếu phẩm chất trữ tình; là đối tượng để lay gọi thức tỉnh chứ không phải đối tượng ngâm nga, thưởng thức, dù thơ Cụ đã đạt tới một trình độ rất cao về phẩm chất nghệ thuật của thi ca.
 
Giọng điệu thanh nghị để lay gọi, thức tỉnh là một đặc điểm xuyên suốt, bao trùm, thể hiện tính cách con người văn chương Huỳnh Thúc Kháng. Giọng điệu ấy xuất phát từ tấm lòng yêu nước thương dân và ý chí sắt son, kiên quyết vì dân vì nước trước sau không đổi của nhà chí sĩ.
 
Đọc thơ Cụ, ta thấy biểu hiện của giọng điệu ấy rất rõ nét, như Cụ đang nói mà lời nói hóa thành thơ (khẩu chiếm) chứ không phải Cụ sáng tác theo lối tìm ý, lục vần, gọt câu, giũa chữ để có thơ.
 
Hầu hết các bài thơ quốc âm của Cụ đều có đặc điểm này. Một số bài tiêu biểu như: Đi đày khẩu chiếm, Trăng sông Hương, Dạo thuyền trên sông Hương, Tháp Chiêm Thành, Cảm tác..., và đặc biệt là những bài mang tính chất luận về lẽ đời như Cảm đời, Biết người, Trò đời, Cá bỏ giò cua, Gửi mấy ông nghị viên, Ông Táo,Vịnh Kiều.
 
Bài Đi đày khẩu chiếm (ngay nhan đề đã nói nên phần nào đặc điểm giọng điệu) được viết lúc Cụ bị thực dân Pháp và tay sai Nam triều bắt giam và đày ra Côn Đảo sau sự việc nhân dân Quảng Nam, Quảng Ngãi nổi dậy chống sưu thuế ở Trung Kỳ năm 1908. Trong hoàn cảnh phải đi đày biệt xứ, rời mảnh đất thiêng của quê hương tiên tổ, li biệt gia đình để tới đảo Côn Lôn giữa biển khơi mù mịt không biết ngày trở về, bài thơ của Cụ vẫn toát lên từ trong giọng điệu cái thái độ rạch ròi và bình thản trước họa hoạn gian truân:
 
Mỗi bước ra đi một bước ngừng
 
Sự đời nghĩ lại dửng dừng dưng
 
Một chuồng trâu ngựa nằm lơ láo
 
Mấy dặm quan sơn bước ngại ngùng
 
Chén rượu bồ đào bưng bỡ ngỡ
 
Khúc đàn Dũ Lý gảy tưng tưng
 
Giọng điệu thơ thanh nghị thể hiện ở hệ thống từ láy thuần Việt được sử dụng đầy sáng tạo và giàu tính biểu cảm, mang nội hàm đánh giá rõ rệt. Non sông thì bị chia cướp là thế, vua quan bù nhìn thì đớn hèn cam sống kiếp ngựa trâu lơ láo là thế, bản thân mình và bao đồng chí trong cảnh tử biệt sinh ly, người tù ngục, kẻ lưu đày, người lên đoạn đầu đài chịu án chém thảm khốc, nhưng Cụ vẫn vững vàng khí tiết, như cây tùng trong gió chẳng chuyển lay. Những từ ngữ có tính chất “khẩu chiếm”, “thanh nghị” như nghĩ lại/ cho hay/ ờ ờ phải/ có lúc/ thì có lúc không những có ý nghĩa rất sinh động về mặt ngôn từ đối thoại mà còn toát lên trong đó một triết lý được phát biểu một cách nôm na nhưng ý nghĩa lại hết sức sâu sắc, cho thấy một nhân cách sống, một bản lĩnh cứng cỏi không gì lay chuyển được của con người dù trong bất cứ tình huống nào của nghịch cảnh: Cho hay con tạo ờ ờ phải/ Có lúc hanh thì có lúc truân.

Ẩn sau cái vỏ thậm bình dân và đời thường của ba chữ “ờ ờ phải” lại là cái cốt lõi sắt đanh của một lời thanh nghị, luận rõ quan điểm, lý tưởng cùng nhân sinh quan, thế giới quan của con người trước cuộc đời thiên biến, qua đó ta thấy toát lên một thái độ bình thản và kiên quyết, không lo âu, sợ sệt, mất tinh thần trước sóng gió thời cuộc. Đó là bản lĩnh, tính cách rắn rỏi, kiên định của người chí sĩ cách mạng trong cuộc đời và cả trong thơ.

Bài Khóc cụ Tây Hồ lại vang lên một âm điệu khác của giọng thơ thanh nghị, nhưng vẫn là ngôn ngữ rất bình dị của đời sống đi vào thơ để nói với người nay và cả người hậu thế về trách nhiệm trước lịch sử, thái độ đối với người đã khuất, hành động cần có để xứng đáng với người đã vì nước non mà gian khổ, bôn ba. Chất thanh nghị trong thơ thể hiện ở nội dung bàn về lẽ sống chết, luận về ý nghĩa sự tồn tại của con người trong sự tồn vong của vận mệnh núi sông:
 
                             Nắm xương vùi đất hãy còn tươi
 
                             Thoắt đã hai mươi bốn tháng rồi
 
                             Mấy bận anh hùng hồn chả chết
 
                             Tư bề sông núi gọi không ơi
 
                             Dân hăm lăm triệu bơ sờ đất
 
                             Nước bốn nghìn năm quạnh quẽ trời
 
Giọng điệu thơ dứt khoát và rắn rỏi, nước mắt lặn vào trong, tâm can đớn đau nhưng không chìm đắm trong đau đớn, mà từ trong nỗi đau đốt lên ngọn đuốc soi đường, chỉ dẫn ra thái độ, tình cảm, hành động cần phải có của người nay, rằng phải làm sao cho xứng đáng với người đã khuất. Chính bởi vậy, hai câu kết mang ý nghĩa của lời phủ dụ:
 
                   Chín suối thử kêu người khuất mặt
 
                   Nhớ nhau còn được bấy nhiêu người? (Bài I)
 
                   Anh hùng dầu mất hồn chưa mất
 
                   Nối gót kìa ai kẻ thứ hai? (Bài II)
 
Ở bài Dạo thuyền trên sông Hương, giọng thơ thanh nghị để gọi lay thức tỉnh càng thật rõ nét và cũng thật đặc sắc. Bốn câu đầu mới chỉ là cảnh, khá chân thực và ấn tượng tuy chưa có gì nổi bật về mặt cảm xúc:
 
Bấy lâu bận việc bỏ nghề ngâm/ Được rảnh ma thi lại thì thầm
 
Đèn liệt bờ sông sao xấp xới/ Xe qua cầu sắt sấm ì ầm

Nhưng bốn câu sau giọng điệu thật đặc biệt. Cụ tự trầm sâu vào cảm xúc trước cảnh. Có một cái gì lắng đọng trong tâm. Một làn sóng ngầm rất sâu trong tâm cảm, để lúc bấy giờ mới bật ra thành lời đối thoại trước thực tế:
 
Hỏi gương kim cổ trăng không nói
 
                   Xót cuộc tang thương nước cứ trầm
 
Say ngủ kìa ai, ai tỉnh chửa?
 
                   Chuông chùa còn gióng tiếng Nam âm.
 
Cả bốn câu thơ đều là lời đối thoại: đối thoại cùng trăng, trăng im lặng; đối thoại với nước, nước chìm đắm với tang thương; đối thoại với người, người người đều say ngủ; đối thoại với mình: phải thức tỉnh tha nhân!   
 
Giọng điệu thơ cho thấy rõ tính chất thanh nghị của thơ Huỳnh Thúc Kháng. Cụ như đang tự hỏi có ai còn thức, đã thức cùng mình hay không? Cảnh non sông thì như thế, gương kim cổ còn đó, nước tang thương còn đây, mà bốn chung quanh mọi người đều say ngủ, say ngủ trên nỗi đau mất nước, say ngủ trên nỗi nhục kiếp nô. Cụ lay tỉnh mọi người bằng câu hỏi:
 
                   Say ngủ kìa ai, ai tỉnh chửa?
 
Đây là giọng điệu của một con người nội tâm rất sâu sắc trước ngoại cảnh, nhưng không chôn chặt, khép kín tâm sự trong lòng mình, mà phải mở tâm sự ra với mọi người, cùng mọi người. Mở ra cũng là để minh bạch quan điểm, tư tưởng, suy nghĩ của mình.
 
Câu cuối, trước cảnh mọi người còn say ngủ, Cụ lay mọi người tỉnh dậy khỏi giấc mộng. Cụ muốn giác ngộ những người mê ngủ trong cảnh nước mất. Tiếng của Cụ như tiếng chuông thức tỉnh mọi người, thức tỉnh hồn dân tộc trong mỗi người:
 
                   Chuông chùa còn gióng tiếng Nam âm.
 
Tiếng Nam âm ấy là hồn dân tộc, là tinh thần dân tộc cần được vọng tới những hồn mê đang say ngủ. Và người tự nguyện gióng lên tiếng chuông ấy chính là nhà chí sĩ cách mạng yêu nước Huỳnh Thúc Kháng.
 
Phải chăng vì thế mà trên báo Tiếng Dân cụ còn có một bút danh khác nữa là Chuông Mai? Và khi nói đến trách nhiệm nặng nề của tờ báo công khai, đơn độc trên đường tranh đấu, Cụ đã viết:
 
                   Gánh nặng một đường đầy sạn sỏi
 
                   Thuyền côi bốn mặt nhộn phong trào
 
                   Cho hay ngòi viết phần vô dụng
 
                   Song cũng chuông mai cũng trống chiều.
 
                                                (Thập tứ chu niên, II)
 
Có thể thấy, giọng điệu thơ Huỳnh Thúc Kháng không phải giọng điệu trữ tình hướng nội mà ta thấy trong đó vừa là tình cảm trí tuệ vừa là tư duy mở, mở ra tâm sự của mình để lay gọi, thức tỉnh người khác. Mục đích thơ không phải để nói về mình, nói cho mình mà là mở rộng sự giao lưu với mọi người để thức tỉnh mọi người.
 
Người làm thơ nhìn chung thường có giọng điệu hướng nội, nhưng Huỳnh Thúc Kháng thì không, dù cụ có những tình cảm rất mạnh, rất sâu trong tâm cảm. Và những tình cảm ấy được trộn với những suy tư sâu sắc về bản thân trong mối quan hệ với mọi người, với Tổ Quốc và dân tộc.
 
Cụ viết thơ không phải để cho mình mà luôn hướng tới mọi người, hướng tới đối tượng cần phủ dụ, lay động, thức tỉnh hay châm biếm, phê phán. Đặc điểm đó biểu hiện rõ nhất trong phần kết của các bài bát cú. Các câu kết thường là các câu cảm, hỏi, cầu khiến mang ý nghĩa hướng ngoại, đặt dấu ấn đậm nét trong lòng người đọc, buộc người đọc, người nghe phải dừng lại, nghe, suy nghĩ, nhận thức, giác ngộ và tự thức tỉnh, như ở các bài Khóc cụ Tây Hồ, Trăng sông Hương, Dạo thuyền trên sông Hương, Đêm thanh dạo trên cầu ga Huế, Tháp Chiêm Thành, Khóc cụ Giải Huân, Qua núi Hoành Sơn, Cảm tác, Miếu Trần Hưng Đạo, Đi Bắc Kỳ, Cảm đời, Tiếng Dân tự đề, Vịnh Kiều.
 
Trong chùm các bài kỷ niệm ngày ra đời của báo Tiếng Dân từ Đệ nhất chu niên đến Thập ngũ chu niên, ta càng thấy rõ phong cách thơ của Cụ trong giọng điệu. Sắc thái thanh nghị lay gọi, thức tỉnh thể hiện rất rõ, nhất là ở những câu kết của bài, tạo ra âm hưởng thơ hướng về đại chúng, như:
 
                                      Nghe chăng văng vẳng kèn trời đất
 
                                      Chim có rừng sâu, cá có sông.
 
                                                          (Đệ nhị chu niên)
 
Giọng điệu thanh nghị cũng dẫn tới xu hướng bình dị hóa, cụ thể hóa, sinh động hóa ngôn ngữ thơ trong thơ Đường luật Huỳnh Thúc Kháng.
 
           Thơ Đường luật vốn trọng tính khuôn mẫu, công thức. Ngôn ngữ thơ thiên về tính trang trang trọng, cổ điển. Hình tượng thơ thường ưa dùng những ước lệ tượng trưng, nên thường hạn chế khả năng sáng tạo của con người.
 
          Tuy nhiên, Cụ nhà nho chí sĩ trong thể thơ rất quy phạm này vẫn tự do sáng tạo với cá tính độc đáo để biểu đạt những tư tưởng, tình cảm lớn của mình.
 
          Đọc thơ của Cụ, chúng ta sẽ thấy Cụ có xu hướng tự nhiên hóa, bình dị hóa những hình tượng cổ điển, hàn lâm.
 
          Ta gặp nhiều trường hợp Cụ dùng chữ bể dâu, dâu bể vốn dùng nhiều trong thơ xưa:“Bể dâu thay đổi mấy triều vương” (Lũy Thầy); “Cuộc thế bể dâu đà mấy lớp” (Qua Nghệ Tĩnh); “Đau đớn lòng ai cuộc bể dâu” (Vịnh Kiều)... Nhưng khi cần, Cụ lại chỉ nói rất bình dị, nôm na, đặng nhấn vào tâm cảm:
 
Cuộc đời thay đổi biển ra cồn
 
                             Người có lương tâm nước có hồn.
 
                                                          (Khóc cụ Giải Huân)
 
                             Xót mình cô quạnh thuyền đang gió
 
Ghê cuộc chung quanh biển hóa cồn
 
(Đệ tứ chu niên)
 
          Trong bài Cảm đời, loạt từ trái nghĩa được – thua, vui – buồn, say – tỉnh, lên – xuống, méo – tròn, tạo một trường nghĩa thiên về tính đời thường, bình dị.
 
Hình ảnh ngọn thủy triều được nói rất giản đơn, dân dã:
 
Ngọn triều gió cuốn lên rồi xuống
 
Mặt trăng, cũng không phải là hình ảnh đầy – khuyết thi vị nên thơ như trong văn thơ cổ mà được diễn đạt nôm na:
 
                             Vầng nguyệt mây che méo lại tròn
 
Cách nói tự nhiên, dân dã khiến thơ Đường luật Huỳnh Thúc Kháng mang tính nhân dân bình dị, tuy nhiên không phá vỡ tính nghiêm cách của thơ bát cú luật Đường mà vẫn toát lên trong thơ vẻ đẹp của sự trang nghiêm, mẫu mực.
 
Đặc điểm thơ thanh nghị bên cạnh tính chất nghị luận, tranh luận, cởi mở, hướng ngoại để nhằm phủ dụ, gọi lay, thức tỉnh thì cuối cùng thường dẫn dắt đối tượng nhận thức đi đến một kết luận được khẳng định, một chân lý được thừa nhận, một triết lý để lắng đọng, suy tư.
 
          Chất thanh nghị của thơ Huỳnh Thúc Kháng hướng đối tượng nhận thức đến những chân lý mang ý nghĩa phổ quát, những triết lý nhân sinh cao cả, những bài học làm người sâu sắc, những giá trị bất biến, trường tồn, thể hiện cái chí, khí, tình của Cụ trong cuộc đời và cả trong thơ.
 
          Cái lớn của Cụ là cái CHÍ, cái chí vì dân, vì tự do, dân chủ, dân quyền.
 
          Cụ “nhắc” mấy ông Nghị viên:
 
                                      Dân quyền mầm mống đầu tiên ấy
 
                                      Bước trước gương sau chút gọi là.
 
                                                                   (Gửi mấy ông Nghị viên)
 
          Cụ “dặn” người bạn thân đi Pháp:
 
                                      Tự Do thổ sản là nơi ấy
 
                                      Tìm giống về gieo đất cố hương
 
                                                                   (Tiễn bạn đi Pháp)
 
          Cái sâu của cụ là chữ TÌNH, tình nước, tình dân, tình đồng chủng, đồng bào. Trước cảnh dân tình khốn đốn trong lũ lụt, tai ương, Cụ đau xót:
 
                                      Gió lớn mưa to nước nhảy đồng
 
                                      Đồng bằng như biển, ngó mênh mông
 
                                      Ông thần thủy bá vô nhân nhỉ
 
                                      Nước mắt mồ hôi cuốn sạch không.
 
                                                                   (Dân xứ bị lụt)    
 
Đi xe từ Nghệ ra Bắc, Cụ quặn lòng trước cảnh non sông:
 
                             Kìa máu tổ tiên gành nhuộm đỏ
 
                             Nọ bia đất nước mực còn đen
 
                             Mênh mang bể khổ hồn Tinh Vệ
 
                             Giéo giắt ngành khuya tiếng đỗ quyên
 
                                                          (Đi xe từ Nghệ ra Bắc)
 
Cái cao ở Cụ là NHÂN CÁCH. Cho nên, Cụ luôn đề cao nhân cách, xem nhân cách là thước đo cao nhất giá trị làm người:
 
Tấm gương nhân cách treo ngàn thuở
 
Cái kiếp bình sinh đã mấy phen
 
                             (Khóc cụ Giải Huân)
 
Ước gì nhân cách cao hơn tuổi
 
Công tội làm chi chuyện đã qua
 
                             (Sáu mươi tư thọ)
 
          Nhân cách cao thượng, khí tiết cứng cỏi được Cụ ví như cây tùng trên núi cao, cây thông trên đụn cát không gì sánh được, không gì lay chuyển được. Cho nên, khóc cụ Giải Huân, Cụ viết:
 
Lan un ra khói hương chưa dứt/ Trúc đốt thành than lóng vẫn còn
 
Nhân vật tiên thời mòn héo mãi/ Cội tùng chót núi khéo chon von.
 
                                                                   (Khóc cụ Giải Huân)
 
          Chơi bên cửa biển Thuận An, Cụ cũng nhìn đời qua tấm gương của khí tiết và nhân cách:
 
          Biển người trồi sụt ba làn sóng/ Cuộc thế hơn thua một ván cờ
 
          Chỉ có chòm thông trên nổng cát/ Mưa dồn nắng dội vẫn trơ trơ.
 
                                                                   (Chơi cửa Thuận An)
 
          Triết lý sâu sắc là đặc điểm dễ nhận thấy trong các bài Đường luật của Cụ Huỳnh, nhưng không phải triết lý với mình mà triết lý với cuộc đời, cùng mọi người, để động lay, thức tỉnh mọi người. Triết lý cũng là một biểu hiện của giọng điệu thanh nghị, với sự hòa quyện sâu sắc của tình cảm và trí tuệ:
 
                             Cuộc đời dâu bể chừng ra thế
 
                             Hiểm nhất lòng dân chẳng dễ dò
 
                                                          (Chơi cửa Thuận An)
 
Cho biết trăm năm là cõi tạm
 
                             Hơn nhau chỉ một tấm lòng son
 
                                                          (Cảm đời I)
 
          Nếu như ở các trường hợp trên, màu sắc thanh nghị chủ yếu nghiêng về phủ dụ, gọi lay, thức tỉnh hay đúc kết những triết lý nhân sinh, thì ở nhiều trường hợp khác, tiêu biểu là chùm Vịnh Kiều, giọng điệu thanh nghị lại toát lên tính khẩu chiến, luận chiến mạnh mẽ.
 
          Trước hết là quan điểm của Huỳnh Thúc Kháng về nội dung thời đại được Cụ phát biểu trong hình thức thủ vĩ ngâm:
 
          Câu 1, bài đầu:                        Á cũ qua rồi mới chửa Âu
 
          Câu 8, bài cuối lặp lại:            Á cũ qua rồi mới chửa Âu
 
          Đại ý: Tư duy châu Á, văn hóa châu Á đã cũ, đã lỗi thời rồi mà cái mới, cái văn minh, cái tiến bộ chưa xác lập được, chưa bén kịp (chửa Âu).
 
          Huỳnh Thúc Kháng đã sớm đọc tân thư. Tư tưởng mới của Cụ đã bộc lộ trong Thi tù tùng thoại, năm 1911:
 
Á hải xông pha mấy dặm đàng
 
                             Âu Tây nay lại vượt thuyền sang
 
                             Cuộc cờ xoay thể bàn tay trắng
 
                             Việc nước doanh mình mái tóc sương
 
                             Dân ước thầy Lư xem trọn bộ
 
                             Mộ bia vua Nã đọc đôi hàng
 
(Tiễn bạn đi Pháp)
 
Lư là Lư Thoa, tức Giăng Giắc Rútxô, tác giả bộ Dân ước, Nã là Nã Phá Luân tức Napoléon. Cụ Huỳnh đã chắt lọc những tư tưởng dân chủ mới của phương tây như Rútxô, Môngtexkiơ. Sự nghiệp phức tạp và thiên tài của Napoléon cũng được Cụ tiếp cận ở phương diện tích cực như Napoléon là người đã dùng binh lực phá liên minh thần thánh của phong kiến châu Âu.
 
Cái lớn của Cụ chính là nhìn thấy được tư tưởng dân chủ tiến bộ phương Tây mà phương Đông phong kiến không có. Cho nên hai câu cuối Cụ đã viết:
 
                   Tự Do thổ sản là nơi ấy
 
                   Tìm giống về gieo đất cố hương.
 
          Cụ đã nhìn ra được cái mới mà thấy rằng tư duy phong kiến châu Á cổ hủ quá rồi. Là một nhà nho đại khoa bảng, nhưng Cụ không bị kìm hãm bởi tư tưởng Á châu cổ hủ, không bị lệ thuộc lề thói cố hữu của phương Đông cái gì cũng cho quân chủ là nhất, phương Tây chỉ là “mọi rợ”, khi tiếp xúc phương Tây chỉ “nhắm mắt lại” để quay về nghìn năm phong kiến mà không thấy được sức mạnh của văn minh vật chất – khoa học – kỹ thuật phương Tây. Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm là hai phạm trù triết học mà lúc đó phương Đông phong kiến chưa từng biết đến.
 
          Phát biểu câu thơ trên, Cụ đã nhìn thấy buổi giao thời. Con mắt của một nhà nho phương Đông, nhưng lại nhìn thấy cái trì trệ lạc hậu của phương Đông so với phương Tây. Đó là sự tinh tường sáng suốt của Cụ. Cụ đồng thời nhìn thấy ở ta chưa xác lập được cái mới, trong khi các nước châu Á khác, trong đó có Trung Quốc đã dịch được nhiều tác phẩm về tư tưởng dân chủ của phương Tây, như các công trình dịch thuật của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu. Cụ Huỳnh qua tân thư đã thấy châu Âu có quá nhiều cái mới mà Việt Nam và phương Đông chưa có, thậm chí chưa hề biết đến.
 
Bởi vậy, câu thơ của Cụ có nội hàm khái quát rất sâu nội dung thời đại:
 
          Châu Á, phương Đông phong kiến đã quá lạc hậu, lỗi thời rồi.
 
          Cái mới, cái văn minh tiến bộ thì chưa có, chưa hình thành được.
 
          Cụ đã đánh giá đúng đắn buổi giao thời mà các nhà trí thức Việt Nam lúc đó chưa nhìn ra được: Á cũ qua rồi mới chửa Âu.
 
          Có thể thấy, tính chất thanh nghị được thể hiện trong lối thủ vĩ ngâm sáng tạo, trong lối chơi chữ tài tình (Á – Âu), và trong cách dùng từ rất nôm na, dân dã mà cũng rất khéo (chửa) cho thấy cái tài của Cụ trong cách thức trình bày, biểu đạt tư tưởng. Qua đó ta càng thấy trí tuệ sâu rộng của nhà chí sĩ cùng nhãn quan chính trị sắc sảo của Cụ, trong buổi giao thời đã nhận thức đúng nội dung thời đại, để có bước đi đúng cho tư tưởng và hành động.
 
Ở bài Tiếng Dân tự đề, Cụ đã đưa ra quan điểm mới:
 
                   Sinh trong một nước phải lo phần
 
                   Dưới đất, trên trời, giữa có dân.
 
          Hai câu thơ này không giống triết lý thiên – địa – nhân của nhà nho cổ Trung Hoa. Chữ “nhân” trong triết lý Trung Hoa cổ chỉ là người quân tử (tầng lớp thống trị), để phân biệt với kẻ tiểu nhân (tầng lớp thấp hèn), chứ không phải nhân với nghĩa nhân đạo, nhân quyền hay con người nói chung.
 
          Cụ Huỳnh không theo cái đó. Bỏ qua tam hình thế của Trung Hoa, cụ thay “nhân” bằng DÂN, và đặt ở vị trí trung tâm: Dưới đất/ trên trời/ giữa có dân.
 
Câu thơ là sự tiến bộ trong tư tưởng và sự khẳng định lập trường cách mạng của Cụ, là cái hay của giá trị đóng góp cho đời sống, cho sự tiến bộ xã hội, đề cao vị trí của dân: Dân phải là nhân tố cốt lõi của xã hội.
 
          Đó là tầm cao của tư tưởng dân chủ, bởi đó mới là dân chủ thực sự. Dân phải là trung tâm, từ đó mới có thể tiến tới quan điểm vì dân, vì dân chủ, dân quyền.
 
Hai câu thực:
 
                             Thế giới mây tan tuồng cựu hủ
 
                             Võ đài sóng dậy trống tân văn
 
Tuồng cựu hủ là cái đã lỗi thời, hết vai trò. Xếp lại tuồng phong kiến cựu hủ, thế giới mới mây tan. Còn võ đài dậy sóng là công việc của Cụ: gióng trống hô hào đổi mới.
 
Phải nói là Cụ Huỳnh đã nắm được nội dung của thời đại một cách sáng suốt. Chính Cụ trong bao nhiêu năm hoạt động (báo Tiếng Dân) đã mở đường cho đổi mới chính trị, văn hóa, đòi Dân chủ, Dân quyền. Cụ làm một cách kiên trì, đếm từng năm một, không chịu dừng, trong khi Cụ đơn độc.
 
Sự kiên trì lý tưởng của Cụ rất đáng phục.
 
Vậy nên, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào giọng thơ của Cụ cũng không có cái điệu “ú ớ”, “u ơ” mà bao giờ cũng rắn rỏi, giọng điệu thơ không mơ màng, bảng lảng mà luôn cương nghị cứng cỏi, toát ra từ những rung cảm nội tâm sâu sắc và mãnh liệt.
 
Giọng điệu cứng cỏi, luận điệu khẩu chiến trong bài Vịnh Kiều thể hiện rất rõ phong cách, cá tính Huỳnh Thúc Kháng.
 
 Trong lúc non sông chìm đắm tang thương, dân sống cảnh ngựa trâu nô lệ, bọn bù nhìn tay sai lại rầm rộ tổ chức cuộc thi Vịnh Kiều để nhằm đánh lạc hướng dư luận, lôi kéo tầng lớp trí thức rời xa các vấn đề chính trị, xã hội đang bày ra trước mắt. Cụ Huỳnh nhận thấy rằng phải lật tẩy âm mưu đen tối của chúng. Đây không phải là lúc các  trí thức ngồi đấy để ngâm nga vịnh Kiều, lẩy Kiểu, xót thương người Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh, mà phải là hành động vì nước, vì dân. Chính bởi vậy mà Cụ dùng chính truyện Kiều để phê phán chỉ ra thái độ không thích hợp:
 
- Á cũ qua rồi mới chửa Âu
 
Học Kiều xúm xít bọn mày râu
 
- Biết nỗi người sau dại thế ru?
 
Phong triều đưa giọng chuyện phong lưu
 
Cụ mỉa mai, lên án:                          
 
Cột đồng Mã Viện xô chưa đổ
 
                             Sóng sắc Kiều nương đắm lại sầu.
 
Cảnh non sông thì như thế, họa mất nước vẫn sờ sờ ra đó, không động tâm can, mà lại chỉ xúm xít ngâm nga câu chuyện phong tình mà Cụ thấy là “Báo chương quá nửa chuyện thanh lâu”, cho nên Cụ đã “đập” thẳng thừng, không thương tiếc:
 
- Xúm nhau sùng bái gái nhà Ngô
 
- Phật nhà không lạy, lạy người Tàu
 
Trong khi đó:
 
                   Trưng Vương đền cổ mùi hương lạnh
 
                   Triệu Ẩu bia mòn nét chữ lu.
 
Giọng điệu của thơ cụ lúc này cực kỳ “nảy lửa”. Khi đặt trong điệp khúc liên hoàn, tính chất thanh nghị càng trở nên quyết liệt:
 
Lúc thì lên án nghiêm khắc:                        Muôn ác tà dâm ấy sự đầu.
 
                                                           Muôn ác tà dâm ấy sự đầu.
 
Lúc thì châm biếm sâu cay:                        Biết nỗi người sau dại thế ru?
 
          Biết nỗi người sau dại thế ru?
 
Khi thì mỉa mai khinh bỉ:                  Sách dạy ngày nay đĩ đứng đầu.
 
                                                          Sách dạy ngày nay đĩ đứng đầu.
 
        Cuối cùng là luận tội đanh thép:                   Đừng để non sông chịu tiếng vu!
 
                                                                   Đừng để non sông chịu tiếng vu!
 
 
 
Có thể thấy, có lý mà không bất tình, hướng ngoại mà thậm sâu sắc, minh bạch mà không thô thiển, cương nghị cứng cỏi mà da diết rung động tâm can, chất thơ thanh nghị của cụ Huỳnh là một điểm đặc sắc tiêu biểu cho phong cách của nhà chí sĩ, mà tình cảm cách mạng là ngọn nguồn chi phối từ hình thức ngôn ngữ đến thanh âm, giọng điệu, làm nên một phong cách thơ văn độc đáo, một cá tính nghệ thuật đặc sắc, sáng ngời lên chủ nghĩa yêu nước và tinh thần cách mạng dân chủ trong dòng chảy mạnh mẽ của văn thơ yêu nước – cách mạng Việt Nam.
 
TS. Phạm Thị Xuân Châu
CHIA SẺ ĐẾN BẠN BÈ: