HOTLINE: 0904 89 4444

Truông Bồn - Một thời để nhớ
Nhân kỷ niệm 40 năm huyền thoại Truông Bồn (2008) Nhà nước ta đã phong tặng danh hiệu “Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân” cho tập thể tiểu đội 2 – tiểu đội thép Truông Bồn thuộc đại đội 317, đội TNXP 300 tỉnh Nghệ An. Tiểu đội trưởng Trần Thị Thông (người duy nhất còn sống sót trong trận bom đó) và 13 liệt sỹ trong đó có 11 là nữ đều được truy tặng danh hiệu “Anh hùng LLVTND”.
01:09 30-10-2017
Tháng 2/1968 sau khi tốt nghiệp khoá 7 - Lớp đào tạo phóng viên do Việt Nam Thông Tấn Xã (nay là Thông Tấn Xã Việt Nam) phối hợp cùng Ban Tuyên Giáo Trung ương và Tổng Cục Thông tin đào tạo, tôi được Bộ biên tập Việt Nam Thông Tấn Xã cử vào thường trú tại tỉnh Nghệ An với nhiệm vụ là một phóng viên chiến sự.
 

TôI lên đường với chiếc xe đạp Thống Nhất được cơ quan phân phối cùng với chiếc ba lô trong đó vật dụng quan trọng nhất là chiếc máy ảnh mới nhãn hiệu Ech-Giéc-Ta chụp phim 24x36 mới toanh và một chiếc máy Rolleiflex cũ chụp phim cỡ 6x6 cùng với 20 cuộn phim đen trắng, một bọc đựng thuốc tráng phim và quần áo, tư trang lặt vặt. Người nhận quân và dẫn đường là Trưởng Phân xã Nguyễn Hùng Đào và một điện báo viên là Nguyễn Mậu Hân. Sau hơn 4 ngày đạp xe từ Hà Nội, vượt qua nhiều trọng điểm máy bay Mỹ bắn phá ác liệt như cầu Hàm Rồng, cầu Lau, cầu Hổ, cầu Khoa Trường, Hoàng Mai, Đò Lèn, cầu Giát, cầu Bùng... vượt qua nhiều đường xế (đường tránh) nhiều lúc phải dắt xe hoặc cõng xe đạp lên vai mà đi, mà lội, vừa đi vừa tránh bom vừa hỏi đường... Có thể nói anh em chúng tôi phải đội bom đạn mà đi. Thời kỳ đó dọc đường không hề có hàng quán nên tụi tôi thường phải nhờ nhà dân bên đường để nghỉ tạm và nấu cơm ăn, rồi nắm cơm cho cả ngày hôm sau. Thức ăn thì toàn cá khô và muối vừng mang theo. Lần đầu trong đời tôi phải đi một chặng đường dài gian khổ như vậy. Chân tay đau nhức, mỏi nhừ, nằm xuống đất ngủ lúc đứng dậy phải có người đỡ. Lại còn những cơn sốt nóng, sốt rét cấp tính hành hạ. Có những lúc tưởng không thể sống nổi hoặc vượt qua sự gian nan, vất vả và nguy hiểm dọc đường... Cuối cùng 3 anh em tôi cũng đến được Phân xã ở nơi sơ tán.

Phân xã VNTTX được Tỉnh uỷ Nghệ An xếp cùng ở và sinh hoạt với Ban Tuyên Giáo tỉnh, lúc đầu đóng tại xã Thượng Sơn sau lại chuyển đến xã Hiến Sơn thuộc huyện Đô Lương, một huyện thuộc vùng bán sơn địa. Vào thời điểm này Mỹ tăng cường đánh phá Miền Bắc bằng không quân, đặc biệt là trên địa bàn tỉnh Nghệ An.

Xã Hiến Sơn (nơi chúng tôi sơ tán) chỉ cách trọng điểm Truông Bồn chừng 3km đường chim bay. Phải nói rằng không có một ngày nào, giờ nào ngớt tiếng máy bay Mỹ gầm rú trên bầu trời Nghệ An, đặc biệt là nút giao thông Truông Bồn. Từ “Truông” theo tiếng địa phương của người Nghệ Tĩnh có nghĩa là đèo dốc (giống như dốc Pha Đin hay đèo Lũng Lô vậy). Truông Bồn nơi được gọi là trọng điểm, là “túi bom”, là “cửa tử” cách thị trấn Đô Lương 15km, nơi giáp gianh giữa hai huyện Đô Lương và Nam Đàn của tỉnh Nghệ An. Đây là một đoạn đường độc đạo dài chừng 5km trên tuyến đường 15A, tuyến đường nối từ Bắc vào Nam, là con đường huyết mạch quan trọng bậc nhất của hậu phương miền Bắc tiếp tế mọi mặt cho chiến trường miền Nam.

Truông Bồn có đoạn lọt giữa hai sườn đồi, có đoạn một bên là đồi một bên là ruộng nước giống như một cửa ải rất dễ bị vùi lấp, tắc nghẽn không thể vượt qua khi bom Mỹ ném trúng. Tại trọng điểm Truông Bồn hầu như không có ngày nào (suốt cả ngày lẫn đêm) ngớt tiếng bom Mỹ dội. Tại đây cùng với gần 1300 chiến sỹ TNXP và một số lực lượng đảm bảo giao thông khác, tiểu đội 2 mà sau này được đặt tên là “Tiểu đội thép” thuộc C317 của Đội TNXP 300 tỉnh Nghệ An đã đêm ngày bám trụ để đảm bảo giao thông với khẩu hiệu “Sống bám cầu, bám đường, chết kiên cường dũng cảm”.


“Tiểu đội thép” được biên chế 15 chiến sỹ, trong đó có 13 là nữ và 2 nam do Trần Thị Thông làm tiểu đội trưởng. Vào thời điểm nhập ngũ (15/7/1965) các chị, các anh đang ở “Cái tuổi 20 khi hướng đời đã thấy”... có 2 chị trẻ nhất chỉ mới qua tuổi 17. Họ cùng nhau vượt lên bom đạn và những vất vả, thiếu thốn, ngày phải phơi mặt dưới nắng chói chang và cái nóng hầm hập của gió Lào để san lấp hố bom, san đường mở lối, đêm phải điều hành, cảnh giới thậm chí phải trở thành “Cọc tiêu sống” hướng dẫn cho những đoàn xe vượt trọng điểm trở hàng ra tuyền tuyến. Thậm chí nhiều khi các chiến sỹ còn phải xả thân cứu người, cứu xe, cứu hàng mỗi khi có người, có xe bị trúng bom đạn của Mỹ... Họ thực sự là những “Con người gang thép” quyết bám trụ để đảm bảo giao thông trên trọng điểm Truông Bồn, “Thà hy sinh chứ quyết không để đường bị tắc, xe bị ùn”...

Cho đến ngày 31/10/1968 cả tiểu đội đều lập công suất sắc, đã được Bác Hồ tặng lãng hoa và Trung ương Đoàn tặng cờ Nguyễn Văn Trỗi. Nhiều chiến sỹ đã được tặng danh hiệu “Chiến sỹ thi đua” và được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam... Cũng vào thời điểm này- thời điểm cả tiểu đội đã hoàn thành nhiệm vụ, chuẩn bị xuất ngũ. Một số chị em đã có giấy gọi vào học tại các trường Đại học hoặc Trung học chuyên nghiệp, có người đã tìm thấy một nửa của mình ngay tại đơn vị, chỉ còn chờ ngày về quê tổ chức đám cưới như trường hợp chị Nguyễn Thị Tâm quê ở xã Hợp Thành huyện Yên Thành và anh Cao Ngọc Hoà ở xã Diễn Lộc huyện Diễn Châu...

TôI đã có 2 lần sang viết tin, chụp ảnh tiểu đội 2, được mệnh danh là “Tiểu đội thép”. Lần đầu vào tháng 5/1968 do Trưởng Phân xã Nguyễn Hùng Đào dẫn đi, lần thứ 2 vào đầu tháng 8/1968 sang để lấy tài liệu tuyên truyền nhân dịp kỷ niệm lần thứ 23 Cách Mạng Tháng 8 và Quốc khánh 2/9. Vì có quen biết từ trước nên đợt sau tôi đi một mình. Hôm đó khi tôi tới Truông Bồn thì đã thấy các chiến sỹ tiểu đội 2 đang hối hả san lấp hố bom về phía cuối Truông, nơi có sườn đồi thấp và một bên là ruộng nước hoang hoá. Chưa khai thác tài liệu và sẵn hiện trường đang tấp nập tôi tiến hành tác nghiệp ngay. Vừa chụp ảnh tôi vừa nghe ngóng động tĩnh. Chụp đến kiểu phim thứ 10 bằng chiếc máy RolleiFlex , thấy tài liệu đã ổn, tôi nói với tiểu đội trưởng Trần Thị Thông là tập hợp cả tiểu đội lại tôi chụp ảnh kỷ niệm cho. Chị em trong tiểu đội ai cũng thích, cũng muốn chụp nhưng tiểu đội trưởng Thông lại lưỡng lự. Thông cảm ơn tôi và đưa ra 2 lý do không nên chụp ảnh kỷ niệm lúc này: Một là phải nhanh chóng lấp hố bom để thông xe, hai là muốn đảm bảo an toàn cho tôi. Cô nói:

- Nhà báo xong nhiệm vụ rồi thì nên tránh xa trọng điểm càng nhanh càng tốt kẻo bom Mỹ nó chẳng chừa ai đâu. Anh có làm sao thì chị em không gánh nổi trách nhiệm và lại có tội lớn với cha mẹ ở ngoài Bắc.

Nói xong cô liếc xéo tôi một cái và cười hóm hỉnh... Biết không thể thuyết phục được người tiểu đội trưởng thép, tôi tiến hành ghi chép nhanh một số tư liệu rồi đành chào các bạn ra về. Tôi còn hứa là sẽ in ảnh tiểu đội đang lấp hố bom lần sau sẽ đưa sang...

Về Phân xã, buổi tối tôi xuống hầm chữ A tráng phim ngay và hôm sau trước khi gửi phim về Tổng xã tôi không quên cắt bớt một kiểu phim giữ lại để rồi còn in ảnh tặng cho các chiến sỹ tiểu đội 2 như lời đã hứa. Thời kỳ đó phóng viên tự ý cắt bớt phim tài liệu là vi phạm lớn có thể bị kỷ luật hoặc mất “Lao động tiên tiến” như chơi nhưng tôi vẫn liều.

Chiến tranh, bom đạn và công việc của người phóng viên chiến sự cứ kéo tôi vào những chuyến đi liên miên, lúc lên rừng chụp xác máy bay Mỹ rơi, khi xuống biển tường thuật trận đánh chìm tàu chiến Mỹ của đơn vị pháo mặt đất... Thế là tôi vẫn chưa thực hiện được lời hứa và than ơi! tôi đã mắc nợ các chị, các anh “tiểu đội thép Anh hùng” cho đến tận bây giờ. Bởi lẽ cái ngày định mệnh 31/10 năm đó (1968) đã cướp đi vĩnh viễn cuộc đời cũng như sự nghiệp của 13 chiến sỹ TNXP Anh hùng ở trọng điểm Truông Bồn, sự mất mát đó thật quá lớn lao.

Hôm đó vào lúc 4 giờ sáng, 14 chiến sỹ của “Tiểu đội thép” nhận được lệnh của cấp trên, sẵn sàng lao ra hiện trường để san lấp những hố bom Mỹ vừa đánh phá trong đêm ở phía bắc Truông, chỉ còn 1 chiến sỹ ở lại trông lán. Họ bước vào cuộc chiến đấu (không ai nghĩ sẽ là trận cuối cùng) với một quyết tâm cao và vui vẻ như thường, quyết thông xe trước khi trời sáng. Sau 2 tiếng đồng hồ lao động cật lực, các hố bom đã cơ bản được lấp xong. Họ chỉ còn rải thêm đá hộc vào những chỗ đất ướt có thể làm cho xe bị trượt bánh nữa là về lán nghỉ ngơi. Nhưng cũng đúng vào khoảng khắc ấy, vào lúc hơn 6 giờ đột nhiên một tốp máy bay Mỹ lao tới dội bom tới tấp vào vị trí đơn vị vừa thi công. Tiểu đội trưởng Trần Thị Thông (vai đeo súng) chỉ kịp hô “cả tiểu đội vào hầm trú ẩn” thì một loạt bom của giặc đã rơi trúng đội hình tiểu đội. Khi khói bom vừa tan, lực lượng cứu hộ của đơn vị bạn đến hiện trường thì chỉ nhìn thấy những hố bom chằng chịt và sự im lặng đến rợn người. Lực lượng cứu hộ chia nhau đi tìm và đào bới khắp nơi nhưng cũng không tìn thấy một ai. May thay có người phát hiện có một nòng súng trồi lên bên cạnh một hố bom, mọi người nhanh tay đào bới và kéo lên được một nữ chiến sỹ đã gần tắt thở vì ngạt. Họ sơ cứu rồi đưa ngay đến Bệnh viện dã chiến ở gần đấy, người chiến sỹ đã được cứu sống chính là tiểu đội trưởng Trần Thị Thông – người anh hùng của tiểu đội thép Anh hùng.

Nhân kỷ niệm 40 năm huyền thoại Truông Bồn (2008) Nhà nước ta đã phong tặng danh hiệu “Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân” cho tập thể tiểu đội 2 – tiểu đội thép Truông Bồn thuộc đại đội 317, đội TNXP 300 tỉnh Nghệ An. Tiểu đội trưởng Trần Thị Thông (người duy nhất còn sống sót trong trận bom đó) và 13 liệt sỹ trong đó có 11 là nữ đều được truy tặng danh hiệu “Anh hùng LLVTND”.

Dịp kỷ niệm lần thứ 44 Huyền thoại Truông Bồn, tôi lại nghĩ đến món nợ chưa trả các liệt sỹ và Anh hùng TNXP Truông Bồn. Tôi chợt nhớ là tôi còn giữ một tấm phim chụp về tiểu đội thép TNXP anh hùng ở Truông Bồn huyền thoại năm xưa và không biết là mình đã cất ở đâu? Tôi quyết tâm phải tìm tòi, lục lọi, lật giở tất cả những gì thuộc về kỷ niệm trong chiến tranh, tất cả những gì tôi lưu giữ trong những năm tháng công tác tại Nghệ An. Và như có sự run rủi vô hình nào đó, tôi đã tìm lại được tấm phim này nằm kẹp trong tập thơ của cố thi sỹ Trần Hữu Thung (tác giả bài thơ nổi tiếng Thăm Lúa) mà ông đã tặng tôi nhân một lần tôi đến thăm ông và được ông mời uống rượu năm 1969.

Tuy tấm phim (cỡ 6x6) đã bị mốc lấm tấm và xây xước một vài chỗ nhưng tôi mừng đến rơi nước mắt, bởi lẽ đây là một kỷ vật duy nhất của tôi về tiểu đội thép Anh hùng. Tôi cũng tự an ủi mình rằng rồi đây khi bức ảnh này được công bố, được đăng tải trên một số phương tiện thông tin thì cũng được coi như tôi đã trả được món nợ đời với những người Anh hùng trong huyền thoại Truông Bồn. Còn hơn thế, có lẽ đây là một trong số kiểu phim ít ỏi và quý giá nhất trong cuộc đời làm báo và 44 năm cầm máy ảnh của tôi.
 
Phùng Triệu
CHIA SẺ ĐẾN BẠN BÈ: