HOTLINE: 0904 89 4444

Nhớ ngày trao trả nữ tù binh
Những người đón tiếp chúng tôi đầu đội mũ tai bèo, tay đeo băng đỏ, ngực đeo ảnh Bác Hồ với những động tác cực nhanh, đã vào tận bên trong để dìu một số chị em yếu ra khỏi máy bay.
15:22 27-11-2017
Ngày xưa, trong chiến đấu khi bị sa vào tay giặc, phải khoác lên người chiếc áo tù có hai chữ TB (tù binh) là chúng tôi đã xác định và chuẩn bị tư tưởng “trường kỳ” nơi tù ngục chừng nào chiến tranh chưa kết thúc. Nhưng tháng 5/1972, trước việc địch di chuyển toàn bộ nữ tù binh từ Phú Tài (Qui Nhơn) vào Cần Thơ và những tin tức chiến thắng dồn dập từ bên ngoài như báo hiệu cho chúng tôi ngày toàn thắng của quân ta không còn xa nữa. Ngày được tin hiệp định Paris kí kết (27/01/1973) lòng chúng tôi phơi phới. Tuy thế nhưng vẫn không quên nhắc nhau: kẻ địch xảo quyệt lắm, cứ chờ xem đã…
 


(Ảnh tư liệu Internet)

Nhưng khoảng một tuần lễ sau địch gọi danh sách 6 chị mà theo cách gọi phân loại của chúng là thành phần “hồi kết”. Theo lời chúng thì các chị là người của Bắc Việt nên phải trả về cho Bắc Việt tại địa điểm trao trả ngoài Quảng Trị. Chúng tôi buộc thiếu tá Hoạt – chỉ huy trưởng trại giam - phải cam kết đảm bảo an toàn tính mạng cho các chị. Ông ta còn nói: “Tiếp theo 6 người kia rồi đến lượt các cô cũng được trao trả tất cả về cho Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam một ngày gần nhất”. Thật ra đấy chỉ là sự đề phòng với địch, nhưng trong nội bộ chúng tôi cũng biết rõ tình hình bên ngoài và đang âm thầm chuẩn bị cho ngày trao trả. Lòng chúng tôi tràn ngập nỗi vui mừng cho ngày sắp được tự do, cho cuộc kháng chiến dằng dặc gần hai mươi năm với biết bao hi sinh xương máu của dân tộc ta sắp đến ngày thắng lợi. Chẳng màng đến ăn uống mà chúng tôi vẫn thấy no. Chúng tôi cười, chúng tôi hát trong nỗi ấm ức của kẻ thù. Chúng tôi vui sướng bao nhiêu thì ngoài kia địch đang tuyệt vọng bấy nhiêu. Chưa trở về mà chúng tôi đã thấy tự do ngay trong mấy vòng gai thép và cũng chưa bao giờ chúng tôi thấy kẻ thù xuống tinh thần đến mức thảm hại như thế.

Chiều 14/02/1973 địch cho điểm danh sớm hơn thường lệ. Thiếu tá Hoạt đích thân vào gặp chị em với dáng vẻ trịnh trọng. Ông ta thông báo cho chúng tôi biết ngày mai (15/02) chúng tôi sẽ được trao trả về với Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, nhưng không cho biết địa điểm trao trả. Tối hôm ấy địch gọi chúng tôi ra để nhận quần áo và đồ dùng cá nhân. Chúng tôi không nhận vì cho rằng đây là một việc làm “mị dân” và đã trả lời thẳng với chúng: “thường ngày chúng tôi rách rưới, thiếu thốn đủ thứ sao các ông không cấp phát, còn bây giờ chúng tôi không nhận vì không cần đến nữa”.

Sáng 15/02/1973 chúng tối được gọi điểm danh sớm. 105 người có tên trong chuyến đầu tiên trong đó có tôi. Từ trại giam chúng tôi được chở trên 4 chiếc xe GMC để ra sân bay. Thành phố Cần Thơ rực lên sắc đỏ vàng của những ụ cờ ba que được cắm nơi nơi. Đi giữa rừng cờ địch mà chúng tôi cùng hát vang những bài ca cách mạng. Những tên quân cảnh đi áp tải với nét mặt lầm lì, hậm hực nhưng chẳng có tên nào dám mở miệng để nói lời cấm đoán chúng tôi.

Trong sân bay, chiếc máy bay vận tải C130 có cái bụng căng tròn đang đậu sẳn chờ đợi. Chúng tôi không quá lạc quan đến mức mất cảnh giác mà không nghĩ kẻ thù đê hèn có thể chở chúng tôi đến giam ở một nơi nào đó khác hoặc đưa đi thủ tiêu. Nhưng ngồi trên máy bay chưa đầy nửa giờ chúng tôi nghe máy bay hạ dần độ cao rồi đáp xuống mặt đất. Khi cánh cửa lớn ở đuôi máy bay từ từ hạ xuống, hình ảnh đầu tiên đập vào mắt chúng tôi là lá cờ nữa đỏ nữa xanh sao vàng đang phần phật bay trong gió được cắm trên nền đất đỏ au. Không ai bảo ai, chúng tôi gần như nhất loạt reo lên trong tiếng nấc nghẹn ngào: “ Ôi cờ giải phóng, cờ giải phóng!!”. Người nào cũng ràn rụa nước mắt trên những gương mặt tươi cười. Có vài chị em xúc động quá bị ngất đi.

Những người đón tiếp chúng tôi đầu đội mũ tai bèo, tay đeo băng đỏ, ngực đeo ảnh Bác Hồ với những động tác cực nhanh, đã vào tận bên trong để dìu một số chị em yếu ra khỏi máy bay. Riêng tôi và một vài chị nữa nằm trên băng – ca (cáng) cũng được các anh chị nhanh nhẹn khiêng ra.

Sân bay Lộc Ninh nhuốm vẻ hoang tàn, cây lá xác xơ phủ dày bụi đỏ, dấu tích của trận chiến ác liệt cách đấy chưa lâu lắm còn để lại. Chúng tôi được đưa vào tạm nghỉ trong những căn nhà lá sơ sài được dựng vội để đón tiếp “Những người chiến thắng trở về”. Trong khu vực trao trả người của ta và địch đứng xen lẫn nhau. Đây là những người trong Ban Liên Hợp Quân Sự Bốn Bên cùng với những người của Ủy Ban Quốc Tế kiểm soát và giám sát. Nhìn những đống quần áo tù còn vương vãi bên cạnh những căn lều, chúng tôi biết đã có nhiều chuyến trao trả nam tù binh trong những ngày trước đó. Được biết vừa xuống sân bay các anh lập tức cởi bỏ quần áo tù, sau đó được Ban Đón Tiếp cấp phát tại chỗ mỗi người một bộ quân phục giải phóng. Đến lượt chúng tôi cũng nhận mỗi người một bộ như thế. Chẳng hề cậu nệ, chúng tôi xúng xính trong bộ quần áo nam mà sao lòng vẫn thấy vui sướng, tự hào. Hỏi ra mới hay do bên ngoài không hề biết có một nhà tù dành cho nữ tù binh, vì vậy khi được thông báo cả Ban Đón tiếp đều bất ngờ. Không chuẩn bị kịp quần áo nữ để phát nên Ban Đón Tiếp cử người sang Campuchia mua gấp hàng trăm chiếc khăn rằn khổ rộng để đề phòng khi chị em tù binh nếu cũng…trút bỏ quần áo tù như anh em nam thì có cái mà khoác lên người.

Sự việc diễn ra nhanh chóng quá cứ ngỡ như đang nằm mơ. Chỉ mất chưa đầy một tiếng đồng hồ để chúng tôi “hóa kiếp”. Ôi, cái khoảnh khắc sao mà huyền diệu quá! Tuyệt vời quá! Chúng tôi không khóc mà sao nước mắt cứ chực tuôn trào. Hơn lúc nào hết mới thấy thấm thía câu nói bất hủ của Bác Hồ: “không có gì quý hơn độc lập tự do”.

Mãi đến gần tối còn một chuyến bay cuối cùng vẫn chưa thấy về, mọi người phập phồng lo lắng cho số chị em còn lại. Nhưng rồi chuyến bay cũng kịp đến trước khi trời tối. Vậy là 904 chị em chúng tôi được trao trả hết trong ngày 15/02/1973.

Thị trấn Lộc Ninh rợp cờ xanh đỏ sao vàng và những băng rôn chào mừng “những người chiến thắng trở về”. Chúng tôi như ngợp trong vòng tay săn đón đầy ắp tính dân, nghĩa Đảng. Sau đó chúng tôi được chở về “ém” trong những lán trại bí mật sâu trong rừng cao su. Vài ngày sau một số chị em được chuyển ra Đoàn Đón Tiếp Dân Chính Lộc Ninh trong đó có tôi, vì chúng tôi vốn là những cán bộ dân sự trước khi bị bắt. Tôi được đưa vào bệnh viện Bình Phước để điều trị cùng với một số anh chị em thương bệnh binh khác.

Nằm lại Lộc Ninh không lâu, lần lượt các anh chị trở về quê hương, đơn vị tiếp tục nhiệm vụ. Riêng tôi và mấy anh chị điều trị tại bệnh viện của Đoàn Đón Tiếp thì phải nằm lại Lộc Ninh cho đến ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng. Hơn hai năm ở lại Lộc Ninh, bệnh viện chúng tôi phải dời chỗ ở không dưới năm lần vì địch lật lọng cho máy bay lên ném bom Lộc Ninh rất ác liệt. Trong số anh em trao trả cũng có người đã hi sinh vì những trận ném bom này.

Đã 40 năm trôi qua, nhưng ký ức về ngày 15/02/1973 vẫn còn như tươi rói trong mỗi người chúng tôi và ngày này cũng được chúng tôi chọn làm ngày truyền thống nữ tù binh. Giờ đây hàng năm cứ đến ngày 15/02 là chúng tôi lại tổ chức họp mặt, cùng ngồi lại bên nhau để nhắc lại bao kỉ niệm buồn vui, sống chết có nhau nơi “địa ngục trần gian” thuở trước.
 
Trần Phương Mai
CHIA SẺ ĐẾN BẠN BÈ: