HOTLINE: 0904 89 4444

Bác Hồ với hai chuyến thăm trước khi viết Di chúc
Thật lạ, con người ta khi đã “tri thiên mệnh”! Các cụ thanh thản chuẩn bị cho cuộc đi xa. Phần nhiều lặng lẽ, giấu con cháu. Cốt cách Bác Hồ - điển hình con người Á - Đông. Để hoàn thiện bản Di chúc và còn nhằm những mục đích quan trọng khác, theo một số nhà nghiên cứu, Bác có hai chuyến đi liên quan.
14:59 01-12-2017
Về Côn Sơn

Nơi đây một vùng địa linh nhân kiệt, khí thiêng hội tụ nhiều bậc hiền tài: Trạng Nguyên Trúc Lâm Tam tổ Huyền Quang, Tướng quân Trần Nguyên Hãn, học giả Chu Văn An, thủ lĩnh nghĩa quân Nguyễn Thái Học... và tiêu biểu là Ức Trai Nguyễn Trãi.
 
 
Bác Hồ đọc bia Côn Sơn ngày 15/2/1965
 
Từng mười năm nằm gai nếm mật dưới trướng cùng chủ soái Lê Lợi bàn việc quân thắng giặc Minh với Bình Ngô đại cáo sách, vậy mà Ức Trai không còn được tin dùng nữa do nhà vua ưa lời xiểm nịnh khi đất nước đã thanh bình. Ông lui về Côn Sơn lấy bút nghiên tiếp tục phục vụ nhân dân, phụng sự đất nước. Lũ gian thần không chịu yên, rắp tâm dựng ngụy án , ông bị chu di tam tộc.
 
Hai mươi năm sau được vua hiền Lê Thánh Tông minh oan, nhưng nỗi đau ngàn đời Lệ Chi Viên còn đó, vẫn canh cánh bên lòng những con Lạc cháu Hồng mỗi khi tưởng nhớ về ông, ngẫm về thế sự.
 
Bác Hồ lựa ngày rằm tháng Giêng ta, năm tròn 75 tuổi về “gặp” Nguyễn Trãi. Người ôm tấm bia, nghiêng đầu đọc kỹ, nghiền ngẫm ý lời. Lại lên Động Thanh Hư cảm nhận sự giao hòa Đạo Thiên - Địa - Nhân hợp nhất. Sau đó, chọn ngày chẵn, giờ đẹp - 9 giờ: 10 - 5 - 1965, Người ngồi vào bàn thanh thản viết những dòng đầu tiên về ngày đi xa: “Năm nay, tôi đã 75 tuổi. Tinh thần vẫn sáng suốt, thân thể vẫn mạnh khỏe. Tuy vậy, tôi cũng đã là lớp người “xưa nay hiếm”...
 
Cuộc “gặp” Hồ Chí Minh - Nguyễn Trãi không ngẫu nhiên, cần thời gian nữa cho những nghiên cứu phát hiện. Có điều đã rõ ở hai nhân cách lớn đồng điệu một cốt cách truyền thống Việt Nam: vua hiền lấy dân tộc làm gốc, thắng giặc ngoài bằng chính nghĩa và công sức dân.
 
Bình Ngô sách đưa đến việc buộc tướng Minh Vương Thông phải cầu hòa tại Hội thề Đông Quan (16-12- 1427). Đường lối giành độc lập của Hồ Chí Minh cũng hết sức mềm dẻo, từ buổi khởi đầu đánh Pháp kia, cực chẳng đã mới phải đánh. Đánh để đàm, không làm mất mặt đối phương, chống bọn cầm quyền thực dân đế quốc, lại cần tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của nhân dân nước đó. Mất chín năm mới giải phóng được nửa nước khỏi ách chiếm đóng của người Pháp.
 
Cuộc chiến không tuyên bố do nước Mỹ gây ra đang nhích lên những nấc thang cuối cùng, rõ ràng còn lâu dài, vô cùng ác liệt, không cân sức. Trong khi chỗ dựa ngoại viện của nhân dân ta trong phe bị hạn chế vì những rạn nứt khó bề hàn gắn được.
 
Ngày 13 - 5 Bác viết tiếp những lời tâm huyết:"Là một người suốt đời phục vụ cách mạng, tôi càng tự hào với sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu, thì càng đau lòng bấy nhiêu..."
 
Sáng 15 - 5 Bác đáp chuyên cơ sang Quảng Châu. Hôm sau tại Trường Sa, Chủ tịch Mao Trạch Đông tiếp kiến tại nhà riêng và mời cơm thân mật. Hai vị khi chia tay còn chuyện trò mãi trên một đoạn đường dài...
 



Di chúc của Bác có ý nghĩa lịch sử và thời đại sâu sắc

"Thăm" Khổng Tử
 
Theo ghi chép của Vũ Kỳ, thư ký riêng của Bác, sáng 19 tháng 5/1965, Bác rời Bắc Kinh bằng máy bay đi Tế Nam, thủ phủ tỉnh Sơn Đông. Sau đó Bác lên xe lửa đi Dương Châu,về Khúc Phụ, chính thức thăm quê hương Khổng Tử. Phó Chủ tịch nước là người ngoài Đảng, cụ Đổng Tất Vũ và phu nhân cùng đi. Tới 2 giờ chiều, đến nơi.
 
Công viên Khổng Phủ bao trùm một không khí thật trang nghiêm, vắng lặng, cảnh vật lạ thường. Tất cả từ mái ngói rêu phong, viên gạch cổ, tảng đá mòn, đến hàng cây ngàn tuổi...như đều một tiếng nói chung - là chứng nhân cùng thời với chủ nhân - nhà hiền triết vĩ đại cách nay hai thiên niên kỷ rưỡi. Lạ thay, ông Vũ Kỳ thuật lại, khi khách vừa đặt chân qua cửa tam quan thì một luồng gió mạnh thổi ào từ xa tới qua khoảng sân rộng cuốn tung lên những chiếc lá khô, quay quay nhiều vòng trước mặt Bác Hồ. Bất chợt, ông thầm nghĩ, phải chăng, từ thế giới bên kia, được tin Bác đến, đức Khổng Tử đã kịp về "gặp" Bác!.
 
Trong bộ quần áo lụa Hà Đông, nét mặt trang nghiêm, Bác Hồ thong thả dạo bước trong khuôn viên như đang sánh bên bậc tiền bối. Dừng lại dưới gốc cây cổ thụ cạnh Khổng Miếu do chính tay Khổng Khâu trồng, Bác kể: ông là người chủ trương quyền bình đẳng về của cải và sự công bằng trong xã hội. "Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng. Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên. Đã công bằng thì không nghèo, đã hòa mục thì không thiếu, lòng dân đã yên thì không sợ nghiêng đổ".
 
Bác nhớ lại năm 1921 trên tạp chí Cộng sản của Pháp Bác đã dịch câu chữ Hán của Mạnh Tử phát triển quan điểm "Lấy dân làm gốc" của Khổng Tử: Lợi ích của nhân dân là trước hết, thứ đến là lợi ích của quốc gia, còn lợi ích của nhà vua là không đáng kể" (dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh) sang tiếng Pháp: L`inte`ret du peuple avant tout, celui dela nation vient après, celui du rol n`est rien!.
 
Không chỉ dịch, cũng trên tạp chí đó, Nguyễn Ái Quốc từng viết bài ca ngợi đức Khổng Tử là người đã khởi xướng nền đại đồng và thuyết giáo quyền bình đẳng về của cải. Theo Ngài "Nền hòa bình trên thế giới chỉ nảy nở từ một nền đại đồng trong thiên hạ"...
 
Vậy là Bác Hồ của chúng ta, người cộng sản Việt Nam đầu tiên, người chiến sĩ quốc tế từng sống một nửa cuộc đời ở Châu Âu, người kết hợp nhuần nhuyễn tinh hoa văn hóa nhân loại - suốt đời vẫn mang cốt cách Á Đông, một nhân cách vĩ đại Việt Nam, trước sau thủy chung như nhất. Người vận dụng tài tình phép biện chứng duy vật của C. Mác, đi theo con đường đấu tranh giải phóng dân tộc của V. Lê nin, học cái hay trong Đạo làm người, điều tốt trong phép trị quốc yên dân... của Đạo Khổng, nhà Phật, cả Giê su, Gandi, Tôn Trung Sơn v.v... Nhưng trên hết, trước hết vẫn là truyền thống Việt Nam mang trong máu thịt của Người; việc mình, người mình làm theo cách của mình, không bắt chước, rập khuôn... Nhiều lý lẽ của Đạo Khổng gần gũi với đồng bào mình được Người nói với dân bằng lời của dân, dễ hiểu, dễ làm. Người ghét thói tầm chương, trích cú, dùng ngôn từ xa lạ, câu cú sáo rỗng, không phù hợp với thực tế Việt Nam.
 
17 giờ ngày 19/5, Bác lên xe lửa về Tế Nam. Ngồi trên tàu, nhìn nắng chiều nhạt dần trên các triền núi mờ xa, Bác khe khẽ ngâm bài thơ chữ Hán vừa làm xong, ghi lại cảm xúc thăm quê Khổng Tử. Bài thơ sau này có tên là Thăm Khúc Phụ với bao xót xa lưu luyến:
 
Nguyên văn:
 
Ngũ nguyệt thập cửu phỏng Khúc Phụ,
 
Cổ tùng cổ miếu lưỡng y hi.
 
Khổng gia thế lực kim hà tại,
 
Chỉ thặng tà dương chiếu cổ bi.
 
Dịch thơ:
 
Mười chín tháng năm thăm Khúc Phụ,
 
Thông già, miếu cổ thảy lu mờ.
 
Uy quyền họ Khổng giờ đâu nhỉ?
 
Bia cũ còn soi chút nắng tà.
 
Thời điểm đó, chắc có ai đó lo bên nước bạn đang cao trào Hồng vệ binh phê Khổng chống Lâm, lấy làm mếch lòng phật ý về chuyến thăm cá nhân tại quê Khổng Tử của Bác? Nhưng có hề gì, Bác Hồ không vì mình, không ngại liên lụy cá nhân. Bác với uy tín quốc tế lớn của mình còn vì điều tốt lành cho bạn hữu đồng chí. Và, còn vì những gì nữa?
 
Chắc hẳn con cháu chúng ta rồi còn phải nghiên cứu nhiều nữa, mãi về Người!.
 
Trịnh Tố Long
CHIA SẺ ĐẾN BẠN BÈ: