HOTLINE: 0904 89 4444

Lạm phát "học hàm": Lượng đổi chất có đổi?
(Phương Nam Plus) - Những màn trình diễn thuyết phục của Đội tuyển bóng đá nam U23 Việt Nam trên đấu trường Quốc tế những ngày đầu năm 2018 vừa qua đã khiến giới bóng đá trong và ngoài nước "bừng tỉnh" về bản lĩnh, tinh thần và thực lực bóng đá Việt Nam dưới sự dẫn dắt của vị HLV ngoại. Đội tuyển U23 Việt Nam vào tới trận Chung kết U23 Châu Á đã truyền cảm hứng cho hàng triệu trái tim. Đó không chỉ là thể thao mà còn mang thông điệp đáng để suy ngẫm về giáo dục, học hàm, học vị và nhiều danh hiệu trong cuộc sống.
14:13 09-02-2018
 
Nông dân Nguyễn Huy Tấn lai ghép, lưu giữ nhiều giống lan quý hiếm khiến các nhà khoa học chuyên ngành phải kính nể

Tất nhiên thắng lợi đó là tổng hợp nhiều yếu tố, là cả một quá trình nỗ lực phấn đấu. Nhưng không thể phủ nhận được yêu tố "tài năng vượt trội của HLV Park Hang Seo trong huấn luyện, đào tạo, dẫn dắt và đấu pháp trong từng trận đấu cụ thể tại giải Vô địch Châu Á năm nay". Nhiều người đã chỉ ra bài học giáo dục lớn nhất từ thành tích của đội tuyển U23 phải nhắc đến là vai trò của người thầy. Không thể phủ nhận, bóng đá Việt Nam đã thay đổi tư duy, triết lý với sự dẫn dắt của ông Park Hang Seo. Chỉ vài tháng làm việc ở Việt Nam, ông thổi vào từng cầu thủ, thổi vào đội tuyển sự tự tin, biết phát huy những điểm mạnh của mình, những điểm yếu cũng được khai thác để biến thành lợi thế. Chỉ đến thời của thầy Park Hang Seo, chúng ta thấy đôi của chân của các cầu thủ Việt với nụ cười của họ, ý chí của họ tự tin theo từng vòng bóng lăn như có phép thuật, bất kể đối thủ trước mắt là ai.
 
Qua đó, nhiều người mới sực tỉnh lời dạy của ông cha ta từ xa xưa: "Không thầy đố mầy làm nên". Và người ta ước ao đất nước có thật nhiều "thầy giỏi" trên mọi lĩnh vực có được sự xuất thần như vị thầy HLV và những "trò hay" trong bóng đá kia để giúp chúng ta không chỉ nổi về bóng đá mà còn làm cho nền giáo dục của chúng ta "sánh vai cùng các cường quốc năm châu". Những nhà giáo dục nhấn mạnh, giáo dục quan trọng nhất là trao cho trẻ sự tự tin vào bản thân. Thầy trò U23 Việt Nam đã chứng minh điều này một các rõ ràng và chân thực nhất. Chỉ khi tích cực, tự tin thì các năng lực của mỗi người mới được thể hiện một cách tốt nhất.

Hết bóng đá thì những ngày vừa qua dư luận lại sôi sục chuyện "lạm phát" Giáo sư, Phó giáo sư ở ta nhưng lại thiếu những phát minh, sáng chế có giá trị thực sự vượt trội phục vụ cho lợi ích cộng đồng xã hội. Nhiều người thận trọng hơn thì quan tâm đến việc "lượng Giáo sư, Phó giáo sư tăng đột biến thì chất có tăng không?". Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước vừa công bố danh sách ứng viên đạt tiêu chuẩn chức danh giáo sư, phó giáo sư năm 2017. Tổng số người đạt tiêu chuẩn giáo sư, phó giáo sư năm 2017 là 1.226 người, tăng gần 60% so với năm trước. So với 703 người năm 2016, số lượng đạt chuẩn giáo sư, phó giáo sư năm 2017 cao hơn năm trước 534 người, gấp 1,74 lần. So với năm 2015, số người đạt chuẩn giáo sư, phó giáo sư năm 2017 cao gấp 2,35 lần. Trong số 1.226 ứng viên, 85 người đạt tiêu chuẩn giáo sư, 1.141 người đạt tiêu chuẩn phó giáo sư. Độ tuổi trung bình của ứng viên đạt chuẩn giáo sư nằm trong khoảng từ 56 tuổi đến 66 tuổi chiếm nhiều nhất. Người đạt chuẩn giáo sư trẻ nhất năm 2017 là 36 tuổi. Người đạt chuẩn giáo sư lớn tuổi nhất là 75 tuổi. Trong 85 giáo sư, có 20 người công tác trong ngành Y học. Phân nửa số người trong ngành này công tác tại các trường ĐH, học viện, còn lại công tác tại các bệnh viện. Người đứng đầu ngành y tế cũng đạt chuẩn giáo sư trong đợt này.

 
Anh Phạm Văn Hát, người cũng chỉ học hết lớp 7. Anh Hát sinh năm 1972, ở xã Ngọc Kỳ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương chế tạo được nhiều loại máy móc hiện đại phục vụ sản xuất nông nghiệp.
 
Đáng lưu ý, theo số liệu mà báo Tiền Phong có được, trong số 85 giáo sư được xét duyệt lần này thì có 56 giáo sư có bài báo đăng trên tạp chí ISI và Scopus với số lượng  924 bài, trung bình 16,5 bài/giáo sư có bài trên tạp chí ISI/Scopus, chiếm gần 66%. Như vậy, khoảng 34% giáo sư được xét duyệt năm 2017 không có bài báo khoa học đăng trên các tạp chí nổi tiếng quốc tế. Đối với phó giáo sư, trong số 1.141 người được xét duyệt thì có 532 người có bài báo đăng trên các tạp chí nổi tiếng thế giới, chiếm 46,6%, tức là trên 53% phó giáo sư được xét duyệt năm nay không có bài báo khoa học trên các tạp chí ISI/Scopus.  Những ngành có ít bài báo khoa học chủ yếu thuộc các ngành xã hội. Trong đó, ngành Luật có 13 người được xét phong phó giáo sư nhưng cũng không có bài báo nào đăng trên tạp chí ISI/Scopus. Ngành ngôn ngữ học cũng có 22 người được xét duyệt phó giáo sư và cũng không có bài báo trên ISI/Scopus nào. Có thể nói, ngành Luật học và ngành Ngôn ngữ học là hai ngành “trắng” bài báo khoa học trên ISI/Scopus. 
 
 
Nhiều người quan ngại về hiện tượng: "Bội thực chức danh, nghèo nàn sáng tạo"
 
Cũng có người e ngại rằng số lượng tăng không là vấn đề nhưng cơ cấu Giáo sư, Phó giáo sư và chất lượng mới là vấn đề đáng đặc biệt quan tâm. Chúng ta đã và đang tự hào về các làng khoa bảng, về các gia đình nhiều thế hệ là GS, TS. Nhưng thời gian vừa qua, dư luận quá quen với hiện tượng: "Nông dân chế robot được thế giới săn đón còn GS-PGS-TS đề xuất cải cách và thực hiện những nghiên cứu vô thưởng vô phạt bị dư luận phản ứng gay gắt". Hay có vị PGS trưởng thành trong một gia đình nhiều GS còn “đứng nhầm chỗ” khiến dư luận bức xúc trong một cuộc diễu hành mừng chiến công của U23 Việt Nam...
 
Tác giả Hải Đăng có bài viết trên báo Lao động thì băn khoăn, lo ngại về nền khoa học quốc gia vẫn còn đó. Một thực tế là công bố quốc tế của chúng ta vẫn kém xa so với các quốc gia trong khu vực như Thái Lan, Singapore, Malaysia (năm 2017, bằng khoảng 1/3 Thái Lan, 1/5 Singapore, 1/5 Malaysia). Không chỉ số lượng ít, chất lượng các công bố thông qua chỉ số trích dẫn của Việt Nam cũng kém hơn so với các nước ASEAN, nhất là Philippines và Singapore. Bên cạnh đó, nghiên cứu Việt Nam còn phụ thuộc quá nhiều vào "ngoại lực", tức là có tới 80% các công trình khoa học đứng tên chung hoặc hợp tác với người nước ngoài. Về các sáng chế phục vụ cộng đồng, dư luận ít biết đến sáng chế của các GS-PGS-TS, trong khi một số nông dân, chưa học hết cấp 3 đã có những sáng chế mang tầm quốc tế như anh Phạm Văn Hát ở Tứ Kỳ, Hải Dương. Rất nhiều sáng chế, cải tiến kỹ thuật của nông dân đã góp phần giải phóng sức lao động, tăng năng suất, hiệu quả sản xuất. Trong khi đó, một số đề tài tiến sỹ được xem là có phần viễn vông, xa rời thực tế... Nhiều vấn đề bức xúc của thực tiễn chưa được giới khoa học quan tâm và đưa ra các biện pháp “giải cứu” hữu hiệu như ô nhiễm môi trường, phá rừng, khiếu kiện đất đai, oan sai trong xét xử, tình trạng cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp, chi phí không chính thức của doanh nghiệp, tai nạn giao thông…"
 
Cũng có người băn khoăn việc có hay không một số trường hợp "chạy nước rút" học hàm Giáo sư, Phó giáo sư trên "chuyến tàu vét" để chống về hưu đúng tuổi do những ưu đãi cho người có học hàm, học vị được giữ lại công tác thêm tuổi?. Bên cạnh đó cũng thật đáng mừng vì một số nhà khoa học đến phút 89, trước giờ đóng hồ sơ xét duyết GS, PGS năm 2017 đã tự nguyện xin rút lại hồ sơ để tham gia đợt xét sau được đánh giá là khó hơn gần với trình độ quốc tế hơn, cũng tránh bị mang tiếng là GS, PGS trên "chuyến tàu vét".
 
Ai cũng mong muốn đất nước ngày càng có nhiều "hiền tài", nhiều người có học hàm học vị thực tài có tâm huyết, tư duy khoa học, tầm nhìn vượt trội, cống hiến lớn lao, khát vọng dân tộc chân chính đưa giáo dục, khoa học công nghệ, dân trí ngày càng phát triển tiệm cận gần với trình độ chung của khu vực và thế giới. Nhưng rõ ràng từ câu chuyện "xuất thần" của U23 Việt Nam đến việc tăng đột biến học hàm vừa qua đã gợi cho chúng ta ít nhiều suy nghĩ băn khoăn về mối tương quan "Chất" và "Lượng", "Chính danh" và "Hư danh" trong câu chuyện giáo dục; bệnh thành tích; bệnh sính bằng cấp, học hàm, học vị và danh hiệu vừa qua hơn là chuyện tận tâm cống hiến, làm việc hết lòng để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân và luôn biết hi sinh "cháy" hết mình cho tự hào dân tộc như các chàng trai U23 đã làm và được nhân dân ghi nhận hâm mộ.
 
Phải chăng dù có đạt được danh hiệu "Nhà giáo Nhân dân", "Thầy thuốc Nhân dân", "Nghệ sĩ Nhân dân", "Nghệ nhân Nhân dân" hay các học hàm, học vị và các tước hiệu cao quý khác chỉ khi nó tương xứng với những cống hiến lớn lao xuất chúng cho cộng đồng được nhân dân thừa nhận, tôn vinh mới thực sự chính danh và có sức sống bất diệt trong nhân dân?!
 
Vương Nguyên
CHIA SẺ ĐẾN BẠN BÈ: