HOTLINE: 0904 89 4444

Về ban tham mưu tiểu đoàn
(Phương Nam Plus) - Khoảng tháng 3 năm 1970, đoàn cán bộ trẻ chúng tôi về đến đơn vị. Ban chỉ huy tiểu đoàn 409 vui vẻ, hào hứng đón tiếp anh em “tân khoa” trở về, rồi phân công mọi người về nhận nhiệm vụ mới. Tình trạng thiếu cán bộ có vẻ như đang rất khẩn cấp. Và thực ra thì lúc nào cũng khẩn cấp cả. Mỗi trận đánh, dẫu có thắng lợi hay thất bại, đều kèm theo đó là sự hy sinh. Đánh nhau mãi, may mắn mãi rồi cũng có khi gặp lúc nguy nan, ai biết trước được điều gì sẽ đến?
15:55 14-09-2018
 
Cầu siêu cho linh hồn 40 chiến sĩ đặc công tại Anh linh đài Núi Quế

Tất cả mấy anh em trong đoàn trở về đều được giao phụ trách các đại đội, trung đội. Riêng tôi được điều về Ban tham mưu tiểu đoàn làm công việc trợ lý tham mưu tác huấn (tham mưu tác chiến và huấn luyện bộ đội). Trong số mấy anh em, có lẽ tôi là người có trình độ “học vấn” cao hơn cả, nên viết bài khóa luận được nhà trường đánh giá cao, do vậy lãnh đạo cấp trên bổ sung tôi vào Ban tham mưu của tiểu đoàn hay chăng? Ban tham mưu tiểu đoàn đặc công 409 bấy giờ gồm có 3 người, do anh Bảy làm tham mưu trưởng. Anh Long (không biết họ) quê ngoài Bắc, nguyên là đại đội trưởng đại đội 1 được điều về đây và tôi, cán bộ mới toe. Chính trị viên tiểu đoàn là ông Trần Văn Viết. Ông Cương là chính trị viên phó. Ông Đỗ Tiến Vạn được điều đi nhận nhiệm vụ mới ở đơn vị khác không rõ từ lúc nào.
 
Mới gần đây thôi, ông Khuất Quang Cừ, quê huyện Ba Vì (Hà Tây cũ), đại tá công an đã nghỉ hưu tìm đến nhà tôi chơi. Ông Cừ cho hay rằng ông chính là em trai liệt sĩ Khuất Quang Phiệt, cùng nhập ngũ một ngày với với nhóm các chiến sĩ Hà Tây, vào tháng 6 năm 1968. Hỏi sao biết tôi và số máy ? Ông Cừ bảo em biết bác là do đọc được cuốn sách ĐI QUA CHIẾN TRANH của bác, ở đó có số máy do chính bác ghi vào đó. Ồ ra vậy !
 
Ông Cừ cho biết thêm rằng anh trai ông hy sinh ở Núi Quế (huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam). Liệt sĩ Khuất Quang Phiệt là chiến sĩ đại đội 1, tiểu đoàn đặc công 409. Đại đội này do ông Long chỉ huy. Qua thông tin của ông Cừ, bây giờ mới chính thức biết họ tên đầy đủ của ông Long là Phan Đình Long, quê Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Ông Long khi ở ban tham mưu cùng với tôi đầu năm 1970, bấy giờ cũng chừng gần 40 tuổi. Sau trận tập kích núi Quế, đại đội 1 của ông Long hy sinh 40 chiến sĩ. Đối với đặc công trong thời điểm ấy, biên chế một đại đội cũng chỉ khoảng năm sáu chục người, đôi khi cũng chỉ ba bốn chục người, vậy mà hy sinh 40 người trong một trận đánh là quá lớn. Theo lời kể của ông Phan Đình Long thì trận này chuẩn bị tương đối kỹ càng. Trực tiếp chỉ huy là cán bộ quân khu, chứ không phải ông Long đích thân chỉ huy. Bốn chục chiến sĩ ở nhiều địa phương như Thái Bình, Hà Tây, Quảng Nam, Bình Định, Phú Thọ…hy sinh. Nguyên nhân là do bị lộ, địch đã đối phó kịp thời.
 
Theo tài liệu của ông Long còn giữ lại đến nay, thì đại đội 1 của ông được giao tập kích căn cứ Mĩ do lữ đoàn 196 chốt giữ. Đêm 11-5, rạng ngày 12, đại đội 1 gồm 66 chiến sĩ, chia làm 6 mũi tiến công. Tuy nhiên, yếu tố bất ngờ đã không còn nữa. Bộ đội ta phải hứng chịu những đòn phản kích ác liệt của đối phương. Nhưng các chiến sĩ của ta vẫn anh dũng tiến công mạnh mẽ, đánh vào các cơ sở hậu cần, thông tin và các căn hầm trú ẩn của địch. Theo con số báo cáo của ta thì quân Mĩ bị tiêu diệt 295 tên. Phía ta chỉ còn có 26 người trở về. 40 chiến sĩ nằm lại rải rác quanh hàng rào thép gai của địch. Sáng hôm sau, Mĩ cho quân đi tìm kiếm xác anh em mình trên trận địa, gom về chất lên xe tải chở đi đâu mất. Có ông người quê ở đây làm thông dịch cho quân Mĩ, tên là Nguyễn Hữu Cầu, hôm đó cũng ở trong căn cứ này. Theo lời kể lại của ông Cầu, sau đợt tiến công, sáng hôm sau thì ông chui ra khỏi hầm trú ẩn, nhìn thấy nhiều xác chiến sĩ ta hy sinh, nằm rải rác đó đây. Ông cũng chứng kiến cảnh quân Mĩ thu gom xác anh em mình, chất lên xe tải chở đến một bãi cát cách căn cứ khoảng 3 km, cách quốc lộ 1 khoảng hơn 100 mét, chôn ở đó. Nhưng ông cựu binh Mĩ thì lại bảo rằng họ đào hố chôn ngay trong căn cứ, gần cây cầu. Hiện thời vẫn chưa thể tìm ra tung tích cái nấm mồ chung của các chiến sĩ đặc công đại đội 1. Chính tên lái xe tải Mĩ từng viết trong một trang mạng cá nhân rằng hắn đã buộc dây vào chân (vào tay hay vào cổ) một chiến sĩ đã hy sinh, rồi cho xe kéo vòng quanh các con đường trong căn cứ, như một kiểu trả thù đối phương cho hả dạ. Đây không chỉ là một hành động duy nhất mà lính Mĩ từng thực hiện trong chiến tranh ở Việt Nam. Ở đâu cũng có tình trạng này. Anh bạn cùng quê tôi là Đỗ Đức Tốc, lính đặc công bị thương rồi bị giặc bắt. Chúng tra khảo mãi, nhưng Tốc vẫn không chịu đầu hàng. Lính Mĩ buộc dây điện vào chân anh, rồi dùng xe zep kéo lê trên đường nhựa, đến tan xương nát thịt thì thôi. Đó là một hành động vô cùng hèn hạ. Liệt sĩ Đỗ Đức Tốc được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
 
Cùng đêm 11-5 năm 1969 ấy, đại đội 2 của chúng tôi được giao tập kích căn cứ Mĩ trên đồi Phước Tiên, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Chuyện này tôi đã viết trong ĐI QUA CHIẾN TRANH. Cuốn sách này đang được chỉnh lý và bổ sung thêm một số tư liệu mới nữa, cũng sẽ ra mắt bạn đọc nay mai !
 
Tôi về ban tham mưu tiểu đoàn đặc công 409 thì đã thấy ông Long ở đó rồi. Thảo nào thấy ông ấy không mấy khi vui, hay nằm võng im lặng nghĩ suy gì đó. Mấy năm gần đây, quan hệ Việt – Mĩ đã có phần bớt đi màu sắc thù địch, một số cựu binh Mĩ lần lượt sang Việt Nam thăm lại chiến trường xưa. Hình như hình ảnh cuộc chiến tranh phi nghĩa năm xưa vẫn còn ám ảnh tâm hồn họ, day dứt lương tâm họ.
 
Có một cựu binh từng tham gia trận Núi Quế đã tìm về Quế Sơn, nơi ông ấy đã từng nổ súng giết mấy chục chiến sĩ quân giải phóng Việt Nam. Chính ông này đã cung cấp bản đồ, đồng thời chỉ dẫn nơi chôn xác 40 chiến sĩ đặc công đại đội 1, tiểu đoàn 409. Sau trận đánh, quân Mĩ thu gom xác các chiến sĩ ta, dùng máy đào một cái hố rộng, rồi ủi họ xuống, lấp đất. Mấy chục năm rồi, quang cảnh núi Quế ngày xưa đã thay đổi nhiều, nhưng vì có bản đồ chiến sự cũ, nên người cựu binh Mĩ vẫn có thể chỉ ra vị trí nấm mồ tập thể. Xương cốt đã không còn được nguyên vẹn, lại lẫn lộn nhiều người, nên việc tìm ra và phân loại từng cá thể là không thể được. Tuy nhiên, ông Long còn ghi chép được gần đầy đủ tên tuổi các liệt sĩ từng do ông chỉ huy, trong đó có 13 chiến sĩ quê Thái Bình. Cụ thể như sau:
 
 
Bản đồ căn cứ Núi Quế do một cựu binh Mĩ cung cấp
 
1. Đào Ngọc Sản (Thái Thụy)
 
2. Lê Đăng Nghi (Thái Thụy)
 
3. Vũ Văn TY (Thái Thụy)
 
4. Phạm Văn Sơn (Tiền Hải)
 
5. Bùi đăng Rong (Tiền Hải)
 
6. Lê Bá Rựng (Thái Thụy)
 
7. Tạ Ngọc Nhuận (Thái Thụy)
 
8. Nguyễn Trường Tín (Thái Thụy)
 
9. Bùi đăng Năng (Kiến Xương)
 
10. Nguyễn Đình Duy (Kiến Xương)
 
11. Nguyễn Văn Hòa (Thái Thụy)
 
12. Vũ Duy Miêng (Thái Thụy)
 
13. Đào Ngọc Văn (xã Thụy Hà, Thái Thụy)
 
14. Ông Phan Đình Long hiện cư trú tại thị trấn Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.
 
Tôi được sắp xếp ở riêng một cái lán lợp lá mây trên lưng chừng một quả đồi, đối diện với tiểu đoàn bộ, làm công việc vẽ bản đồ và trực chỉ huy. Dưới căn nhà là một cái hầm rộng, được gác bằng những cây gỗ tròn khá to. Nếu trúng bom thì chưa chắc đã thoát, nhưng nếu là đạn pháo thì có thể an toàn hơn. Đường dây thông tin của Ban tham mưu được rải xuống các đại đội nằm rải rác trên mấy quả đồi, cây rừng rậm rạp. Công việc của tôi là nhận báo cáo hàng ngày và truyền đạt mệnh lệnh của tiểu đoàn xuống các đơn vị. Ngoài ra thì vẽ bản đồ tác chiến. Thời kỳ đầu chỉ là các công việc ở căn cứ, như huấn luyện tác chiến, cử người đi xuống vùng sâu lấy gạo hoặc đi lao động sản xuất ở nơi này nơi khác. Khu nhà ăn của chỉ huy sở tiểu đoàn nằm bên cạnh con suối dưới chân dốc. Hàng ngày cán bộ chiến sĩ của tiểu đoàn bộ xuống đó để ăn, rồi lại tản về các căn nhà dựng trên những căn hầm khá kiên cố xung quanh mấy quả đồi có cây xanh che phủ. Cậu Đào Trọng Thìn, người anh em chú bác của Đào Trọng Xuyên (đã hy sinh khi tập kích căn cứ Tuần Dưỡng lần thứ nhất) làm lính nuôi quân. Không còn nhớ chính xác cậu này được điều động về đây từ bao giờ, nhưng có lẽ là trong thời gian tôi đi học ở Ba Tơ. Vì là người cùng làng, nên cậu Thìn rất quý tôi, coi tôi như người anh ruột thịt của mình ở nơi rừng sâu núi thẳm này, nên thi thoảng tôi cũng xuống đó xem có cái gì tàm tạm để nhét vào cái bụng đang lép kẹp này không. Đôi khi cũng chỉ là để chuyện phiếm với nhau mấy câu cho vui thôi.
 
Khi tôi được lãnh đạo tiểu đoàn cho đi chữa bệnh tại bệnh viện quân y C17, Thìn tặng tôi chiếc áo ga-ba đin còn mới. Sau này trên đường ra Bắc, qua đất bạn Lào ven Trường Sơn Tây, tôi dùng chiếc áo này đổi cho bà con dân tộc Lào được một nải chuối chín. Thìn ở lại, sau rồi nó cũng hy sinh, không rõ ở đâu trên núi rừng Quảng Nam, khi tôi được chuyển đi bệnh viện C17 và tiếp đó là ra Bắc điều dưỡng...
 
Một buổi chiều muộn, sau khi đã hoàn thành công việc vẽ bản đồ, tôi lại mò xuống nhà bếp, nhưng nồi cháo bột ngô to tướng đặt trên bếp Hoàng Cầm vẫn chưa kịp chín. Phải chờ. Đêm nay bộ đội tập đêm. Tôi ngồi chờ nồi cháo ngô chín để kiếm một bát cho ấm bụng. Bếp Hoàng Cầm đỏ rực than lửa. Ngồi bên cạnh tôi là một anh bạn nữa không nhớ tên. Chờ nồi cháo ngô chín bên bếp lửa Hoàng Cầm rực đỏ, lại chợt nhớ những lần ngồi bên bếp lửa chờ nồi bánh chưng hồi còn nhỏ ở quê nhà. Tết đến là nhà nào cũng gói bánh chưng, nấu bằng cái nồi 30 to tướng. Nhà tôi có cái nồi 30 bằng đồng rất quý này từ hồi xửa hồi xưa, thường dùng trong những ngày có tiệc lớn, đến cuối năm thì để nấu bánh chưng. Cha tôi thường đảm nhiệm việc gói bánh. Tôi phục vụ loanh quanh, rồi cũng tự gói lấy một vài cái bánh chưng nhỏ xíu, đặt lên trên nồi bánh. Ngồi chờ nồi bánh chưng chín dần trong đêm ba mươi tết, cũng là khoảnh khắc rất chi là thú vị, găm mãi vào ký ức một đời người. Đang ngồi bên bếp lửa nghĩ ngợi vu vơ cho ấm thì bỗng đâu một quả đạn pháo rất lớn không biết từ phương nào bắn tới. Chúng chỉ bắn duy nhất có một quả thôi, nhưng mà cỡ đạn rất lớn, tương đương một quả bom nhỏ. Đạn xé không khí rít lên và ngay sau đó là tiếng nổ chói tai nhức óc chụp lên cánh rừng. Tôi giật mình đánh thót. Một mảnh đạn pháo xuyên qua khe vai của tôi và anh bạn ngồi bên, rồi nó cắm phập vào bếp than hồng, làm tóe lên những tia lửa than đỏ vung vãi. Ôi chao! Chỉ cần nó lệch sang một phía nào đó là một trong hai chúng tôi ngoẻo luôn tại chỗ rồi. Thật hú vía. Cây cối gãy cành ngổn ngang, khét lẹt mùi thuốc pháo. Có tiếng kêu thất thanh. Một anh lính đang tập đêm trúng mảnh pháo chụp, gãy mất một cái chân. Tiếng gọi nhau ơi ới. Nghe nói y sĩ Mạnh, quân y của tiểu đoàn bộ đang kịp thời băng bó cho người bị thương. Y sĩ Mạnh rất giỏi chuyên môn, lại có nhiều kinh nghiệm mổ sẻ các ca cấp cứu quan trọng. Vậy nên anh em ở đây thường quý trọng anh, “phong” luôn cho anh Mạnh là Bác sĩ ngoại khoa. Nhưng dù tài giỏi đến mấy, trong trường hợp này thì bác sĩ Mạnh cũng không thể cứu được anh lính trẻ bị thương quá nặng. Hôm sau thì nghe tin anh lính bị đạn pháo cưa cụt một chân đêm qua đã chết. Có lẽ cậu ấy ra nhiều máu quá chăng. Ở trong rừng, những cái chết thương tâm như thế vẫn diễn ra thường xuyên. Một quả đạn pháo bắn vu vơ lên rừng vào ban đêm, đôi khi bộ đội ta bị thương vong không phải là ít. Hầu như đêm nào bọn lính pháo binh địch cũng bắn vu vơ lên rừng như thế. Trên rừng thì chỗ nào mà chả có Việt Cộng cơ chứ! Cứ bắn bừa lên, trúng hay trật mặc lòng. Bom đạn của Mĩ chở sang, cứ việc bắn vô tư. Nước Mĩ giầu có và hùng mạnh nhất thế giới cơ mà. Bộ đội mình anh nào không may trúng đạn thì đành phải chịu thôi...
 
 
Một số chiến sĩ còn sống sót quê Hà Tây gặp nhau tại Ba Vì năm 2017
 
Khi tôi trở về căn nhà lợp lá mây của mình thì đã thấy cành cây ngổn ngang khắp nơi. Căn nhà của tôi cũng trúng nhiều mảnh đạn pháo trên mái lá. Sờ đến chiếc võng thì thấy rách và thủng mấy chỗ. Thật là may mắn làm sao! Nếu tôi không mò xuống nhà bếp thì chắc cũng tiêu rồi. Số mình vẫn còn được sống. Có ai đó xui mình rời khỏi căn nhà này đâu? Mình cũng chả biết sự việc diễn ra như thế này mà tránh đi. Ông Nam Tào trên trời lại một lần nữa chưa muốn gạch tên mình trên cuốn sổ số mệnh nghiệt ngã kia chăng?...
 
Tình hình chiến sự của năm 70 rất căng thẳng. Các nơi khác thì tôi không được biết, nhưng ở Quảng Nam lúc đó, những cuộc giao tranh giữa ta và địch diễn ra rất quyết liệt. Sư đoàn 2 của ông Nguyễn Chơn đối đầu với sư đoàn 2 lính Cộng Hòa của Nguyễn Văn Thiệu. Phía ta chủ trương tiến công mạnh mẽ vào các đơn vị lính Cộng Hòa, đương nhiên là cả lính Mĩ và bọn đánh thuê nữa.
 
Một chuyến công tác xuống đồng bằng, chúng tôi đôi khi phải đi giữa ban ngày. Phải ngụy trang cẩn thận mà đi. Máy bay trinh sát OV10 bay ở tầm cao, tầm thấp đủ cả. Máy bay hai thân chở theo tuyên truyền viên của “Bộ chiêu hồi” chính quyền Sài gòn, bay vè vè trên đầu, lượn đi lượn lại nhiều vòng. Tiếng con gái trên máy bay cứ eo éo vang cả bầu trời, quanh đi quẩn lại cũng chỉ có một câu đại loại như: “Hỡi các cán binh Việt Cộng trung đoàn 31 (của sư đoàn 2 Nguyễn Chơn)! Các bạn đang bị quân lực Việt Nam Cộng Hòa bao vây. Các bạn hãy mau chóng về theo chính nghĩa quốc gia”... Chúng còn đọc rõ tên ông trung đoàn trưởng, chính ủy trung đoàn, rồi các ông chỉ huy chủ chốt khác nữa. Nghĩa là họ đã biết tất cả nội tình của quân Việt Cộng trung đoàn 31, sư đoàn 2. Thế là đã có gián điệp trong nội bộ của ta rồi. Chúng còn đọc tên cả một số cán bộ chỉ huy cấp trung đoàn, sư đoàn đã chiêu hồi theo “chính nghĩa quốc gia” trước đó nữa. Trong những thông tin ấy, có cái hoàn toàn chính xác, nhưng cũng có cái chúng chỉ phao đại lên, nhằm tác động vào tâm lý đối phương, làm lung lay tinh thần binh sĩ của ta mà thôi. Chiến tranh tâm lý cơ mà! Mặc những tiếng con gái eo éo trên đầu nghe sốt cả ruột, chúng tôi cứ đi, vừa đi vừa nghe. Việc ai nấy làm, nói cứ ra rả nói, đi cứ thong thả đi, thế thôi! Ở chiến trường này thì cái vụ tuyên truyền cứ “diễn ca” thường xuyên như thế, cũng chả lạ gì...
 
Đợt này đơn vị tôi được giao trách nhiệm tập kịch vào căn cứ của đối phương, mà địa chỉ cụ thể là quận lỵ quận Quế Sơn (nay là huyện Quế Sơn) tỉnh Quảng Nam bây giờ. Thời kỳ chiến tranh còn có địa danh tỉnh Quảng Đà và tỉnh Quảng Tín...Đây là lần đầu tiên tôi tham gia trinh sát chuẩn bị chiến trường, với tư cách là cán bộ tham mưu của tiểu đoàn đặc công 409 lừng danh. Năm ấy, tôi vừa tròn 22 tuổi....
 
Vũ Bình Lục
CHIA SẺ ĐẾN BẠN BÈ: