HOTLINE: 0904 89 4444

Nghĩ về tích, tâm, tài qua truyện kiều của Việt Nam
(Phương Nam Plus) - Đến nay giới Kiều học nước ta vẫn chưa biết trong thời gian đi sứ Trung Quốc, “Thánh văn” nước Nam bằng cách nào đã khai quật được cuốn sách “cực hiếm” của Thanh Tâm Tài Nhân? Hơn thế, vị sứ giả tài ba của nước Nam đã lao tâm khổ tứ nhường nào mới tạo nên điều kỳ diệu...
13:52 01-03-2019
Không vật chất hóa giá trị tinh thần, những tác phẩm văn chương đạt tới “quốc bảo” trường tồn với biển đời với thời gian, người Việt luôn trân trong nâng niu cất giữ. Đầu TK 20, nước Việt đang dưới ách phong kiến thực dân, văn chương cũng chịu cảnh đầu rơi máu chảy. Trong màn đêm nô lệ ấy, người dân nước Nam luôn tự hào ví kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du như khối vàng ròng đúc bằng chữ Nôm, học giả Phạm Quỳnh (1892-1945) dũng cảm tuyên bố: Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; Tiếng ta còn, nước ta còn. Ý kiến của cụ Phạm Quỳnh được kẻ sĩ nước Nam coi là một "tuyên ngôn" về giá trị văn hóa Việt, nó góp phần đẩy lùi âm mưu đồng hóa của thực dân phương Tây núp dưới mỹ từ "khai hóa văn minh".
 
 
Nhóm văn nghệ sỹ Tp Vinh viếng Mộ Đại thi hào Nguyễn Du (21/2/2019)
 
Một sáng Chủ nhật cuối năm 1977 cùng nhóm sinh viên Ngữ Văn K22 vào Thư viện quốc gia Hà Nội, tình cờ tôi gặp bài viết của học giả Phạm Quỳnh đăng trên Tạp chí Nam Phong số 30 tháng 12/1919 (xin nói ngoài lề, bấy giờ ý kiến của cụ Phạm Quỳnh đã bị "đắp chiếu" 58 năm, sinh viên chúng tôi càng ít người biết), có lẽ vì thế tôi càng ý thức chép vào sổ tay nhận định của cụ Phạm Quỳnh: “Nguyên bộ tiểu thuyết Tàu mà cụ (Nguyễn Du) phỏng theo để đặt ra truyện Kiều đề là “Thanh Tâm Tài Nhân lục”, không biết rõ tác giả là ai, soạn vào đời nào, nhưng truyện với lời văn cũng tầm thường, ngoài mấy bài từ điệu có vẻ thanh tao lưu loát, không có đặc sắc gì…”.
 
Ngày đó tôi chép lời vàng ý ngọc của học giả Phạm Quỳnh nhằm cất giữ để mình biết mình hay. Khi viết những dòng trên, học giả Phạm Quỳnh chưa biết ai là tác giả cuốn Kim Vân Kiều truyện, vậy nên càng bái phục con mắt tinh đời của cụ trong nhìn nhận tài năng Nguyễn Du. Gần đây tôi được xem ý kiến của GS Đổng Văn Thành-Trường đại học Liêu Ninh, Trung Quốc, đánh giá về cuốn Kim Vân Kiều truyện của tác giả Thanh Tâm Tài Nhân, tôi mới sực nhớ lục lại ý kiến của học giả Phạm Quỳnh lưu giữ trong cuốn sổ tay đã ố vàng, càng tâm phục khẩu phục cái thủ pháp "lạt mềm buộc chặt" thâm thúy của cụ học giả nước Nam, cụ không gay gắt toạc móng heo như đánh giá sau đây của vị GS. Trung Quốc: 

“Cuốn sách của tác giả Thanh Tâm Tài Nhân bị vùi lấp hàng mấy thế kỷ trong văn học sử Trung Quốc; Từ cuối đời Thanh cho tới những năm 50 của thế kỷ XX, cuốn tiểu thuyết ấy hầu như được ít người biết đến. Trong tất cả các sách về lịch sử tiểu thuyết, lịch sử văn học, kể từ cuốn Sơ lược lịch sử tiểu thuyết Trung Quốc của Lỗ Tấn đến nay, đều không có đến nửa chữ giới thiệu về nó…Cuốn sách hầu như bị sổ toẹt, từ đó tiếng xấu lan xa trong ngoài nước. Lúc được phát hiện thì đồng thời cũng là lúc dường như bị phán quyết án tử hình. Truyện Kim Vân Kiều khó mà thay đổi được số phận đáng buồn là bị vứt bỏ. Sau khi người Trung Quốc tự đẩy cuốn tiểu thuyết của mình xuống vực, học giả nước ngoài nghiên cứu văn học Trung Quốc càng không thèm để ý đến nữa…Phải chăng tác giả Trung Quốc Thanh Tâm Tài Nhân-con người “tầm thường”, “không thể cứu chữa”- đã làm hỏng đề tài Vương Thúy Kiều đến nỗi không một chỗ nào coi được, phải hoàn toàn nhờ sự gia công thiên tài của tác giả Việt Nam Nguyễn Du mới biến miếng sắt bỏ đi thành vàng ròng lấp lánh ?...”

“Có tích mới dịch nên tuồng” là quan niệm dân gian, “tuồng” nói ở đây được hiểu là tác phẩm văn học có nội dung tư tưởng giá trị. Như ta biết, tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du với 3254 câu lục bát, chẳng những được các thế hệ người Việt đón nhận, mà còn được cả thế giới tôn vinh lên hàng kiệt tác. Tài văn chương của Nguyễn Du làm nên sức sống trường tồn của Truyện Kiều, ngược lại, sức sống trường tồn của Truyện Kiều đã đưa Nguyễn Du lên hàng “Thánh văn” thế giới. Truyện Kiều từng tạo nên “địa chấn văn chương” trong đời sống văn học của một loạt nước châu Âu châu Á như Pháp, Anh, Đức, Tiệp, Ba Lan, Nhật… Hữu xạ thiên hương (hương thơm bay lên), bấy giờ “cơn địa chấn Truyện Kiều” từ bên ngoài mới tác động mạnh mẽ vào đời sống văn học Trung Hoa đại lục đang “ngái ngủ”. Tôi dùng từ ngái ngủ là vì cố đô Hàng Châu là nơi phát "tích" đề tài Thúy Kiều, vậy mà mãi đến năm 1965 người dân Hàng Châu và người dân đại lục mới hay, lịch sử văn học Trung Hoa đại lục từng có cuốn Kim Vân Kiều truyện của tác giả Thanh Tâm Tài Nhân! Nhắc lại điều này để góp phần khẳng định một thực tế: Quan niệm dân gian “có tích dịch nên tuồng” có thể đúng với trường hợp Nguyễn Du và tuyệt tác Truyện Kiều của nước Nam, song lại sai to với hơn nửa tá nhà văn Trung Hoa thời trung đại, cận đại cũng từng khai thác “tích” Thúy Kiều!
 
 
Tác giải bên sông Tiền Đường, Tp Hàng Châu, TQ (xa xa sau lưng là cầu Kiều)

Khi Nguyễn Du sang Trung Hoa làm nhiệm vụ của một sứ thần, trước và sau đó hàng trăm năm đã có mấy văn nhân Trung Hoa khai thác đề tài Thúy Kiều viết thành sách, gồm Dư Hoài, Đới Sĩ Lâm, Mộng Giác Đạo Nhân, đặc biệt là Từ Văn Trường (bút hiệu Thanh Tâm Tài Nhân). Ông này sống khoảng cuối thế kỷ 16 đầu thế kỷ 17 triều nhà Thanh, học giỏi biết rộng, quan lộ lận đận, ông cũng chọn đề tài "Thúy Kiều" viết cuốn tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện theo lối chương hồi. Sau Thanh Tâm Tài Nhân có thêm Diệp Trĩ Phỉ, Hạ Bỉnh Hoành cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ cũng dựa theo “tích” Thúy Kiều viết hai vở kịch, nhưng công diễn được một số buổi thì vắng khách, lỗ vốn, đóng cửa. Vậy là trái khoáy đã xẩy ra tại nơi phát tích Thúy Kiều chứ không xẩy ra tại Việt Nam, vậy là hơn nửa tá tác giả của nước sở tại chỉ làm nên một lượng tác phẩm hùng hậu để rồi cả tác phẩm cùng tên tuổi tác giả nhanh chóng bị thời gian nhấn chìm trong quên lãng. Điều đó cắt nghĩa của “hiếm” chưa hẳn là của quý, bởi cuốn sách Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân sau khi ra đời đã bị người dân Trung Hoa sống dưới triều Minh vứt bỏ, nó không hề xuất hiện tại Việt Nam, nó “hiếm” tới mức các nhà Kiều học nước Nam không hề có một nguyên bản để tham chiếu, để rút ra, để (dẫu cụ Nguyễn Du không muốn) thì chúng ta cũng cứ thử cân đong để biết cái Tâm cái Tài của cụ Nguyễn Du, Việt Nam, lớn gấp bao nhiêu lần so với Tâm, Tài của hơn nửa tá tác giả người bản địa cùng khai thác “tích” cùng viết về đề tài Thúy Kiều.

Đến nay giới Kiều học nước ta vẫn chưa biết trong thời gian đi sứ Trung Quốc, “Thánh văn” nước Nam bằng cách nào đã khai quật được cuốn sách “cực hiếm” của Thanh Tâm Tài Nhân? Hơn thế, vị sứ giả tài ba của nước Nam đã lao tâm khổ tứ nhường nào mới tạo nên điều kỳ diệu: Phù phép cho “bộ hài cốt” Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân hóa kiếp thành tuyệt tác Truyện Kiều madein Việt Nam. Khoảng 150 năm sau giới Kiều học nước ta mới phân chia 3254 câu lục bát của khối vàng ròng lấp lánh ấy thành các tiểu đề: Kiều thăm mộ Đạm Tiên từ câu 1-244; Kiều gặp Kim Trọng (245-572); Kiều bán mình chuộc cha (573-804); Kiều rơi vào tay Tú Bà và Mã Giám Sinh (805-1056);Kiều mắc lừa Sở Khanh (1057-1274); Kiều gặp Thúc Sinh (1275-1472); Kiều và Hoạn Thư (1473 --2028); Kiều gặp Từ Hải (2029-2288);Kiều báo thù (2289-2418); Từ Hải mắc lừa Hồ Tôn Hiến, Kiều tự vẫn (2419-2738); Kim Trọng đi tìm Kiều (2739-2972); Kim-Kiều tái hợp (2973-3254).
 
 
Tác giả bên tượng Nhà thơ-đại quan Tô Đông Pha ở Tp Hàng Châu, TQ, và tháp tùng GS TS Nguyễn Thiện Giáp thăm Khu Di tích Nguyễn Du, 2006
 
Tham chiếu ý kiến các vị học giả của nước ta và của nước người, từ đó càng tâm phục khẩu phục tổ chức UNESCO với con mắt tinh đời đã đãi cát tìm vàng, mò kim đáy biển, năm 1965 tôn vinh Đại thi hào Nguyễn Du là Danh nhân văn hóa thế giới.
 
Như đã nói, cũng tích Vương Thúy Kiều, vào tay hơn nửa tá người bản địa thì chỉ làm ra miếng sắt bỏ đi, chỉ khi vào tay “siêu nghệ nhân” là cụ Nguyễn Tiên Điền quê xứ Nghệ thì mới thành khối vàng ròng lấp lánh. Điều đặc biệt nữa là các sách của nước sở tại viết về tích “Thúy Kiều” đều không có phần Kim-Kiều tái hợp, chỉ cụ Nguyễn Du nhà ta mới sáng tạo nên cái kết có hậu độc đáo, về sau giới Kiều học nước ta phải mất nhiều chục năm, tốn rất nhiều giấy mực phân tích mổ xẻ, hầu hết ý kiến coi phần kết Kim-Kiều tái hợp là sáng tạo nghệ thuật tuyệt vời của Thánh văn Nguyễn Du nhằm khẳng định tính tất yếu của luật nhân quả-một luận thuyết của nhà Phật đã rễ sâu gốc vững trong tâm thức các thế hệ người Việt từ buổi đầu bình minh dựng nước. Các ý kiến đều đúng khi nói rằng thuyết nhân-quả là tư tưởng chủ đạo trong tác phẩm Truyện Kiều, nói cách khác, luận thuyết nhân-quả của nhà Phật lần đầu tiên được tác giả Truyện Kiều kế thừa tiếp biến, sáng tạo đưa vào tác phẩm văn học một cách trọn vẹn.
 
Nhà văn hóa Trần Trọng Kim cho rằng, Nguyễn Du ứng dụng lý thuyết nhân-quả với quan niệm nhân nào quả ấy, hết quả này lại đeo cái nhân đã gây nên mà có cái quả khác. Nhân tốt thì quả tốt, nhân xấu thì quả xấu, cứ luân chuyển mãi như thế trong cõi hồng trần…Theo cái lý thuyết ấy thì phúc hay họa là ở tự mình gây ra cho mình…Làm việc thiện hay việc ác, trước hết mình phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về những việc ấy.

Không một tác phẩm văn học nào của nước ta với sự lý giải về nhân-quả, tài-mệnh, trời-người, ác giả ác báo… vv… lại được người đọc đồng thuận cao như tuyệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du. Quan niệm “nhân nào quả nấy” như một tất yếu trong suy nghĩ tình cảm của các thế hệ người Việt, nó được thể hiện qua văn hóa ứng xử thường ngày. Những phụ nữ Việt Nam như bà tôi, mẹ tôi-những người đến già chưa một ngày ngồi trên ghế nhà trường, vẫn thuộc lòng hằng trăm câu Kiều để ru con ru cháu. Gặp thiên tai địch họa thì những câu Kiều hóa thành “quẻ”, tác giả Nguyễn Du hóa "Thánh Kiều" để giúp cho bà tôi, mẹ tôi cầu được mưa thuận gió hòa, tai qua nạn khỏi, cầu cho con cháu không ngừng hoàn thiện bản thân bằng con đường tu tâm tích đức. Đồng cảm với tác phẩm Truyện Kiều, dân vùng bãi ngang xứ Nghệ đều “tin trời có mắt” để phù hộ những người tự giác tu tâm tích đức, lấy chữ Hiếu chữ Đức làm đầu. Hiện tượng tâm lý, tình cảm của đông đảo các tầng lớp nhân dân là bằng chứng để khẳng định, trong dòng chảy lịch sử ngàn năm văn học viết nước Nam, Truyện Kiều là tác phẩm có sức sống mạnh liệt nhất, gần gũi nhất với người đọc cả về tư tưởng tình cảm, cả về giá trị nghệ thuật, gần gũi tới mức người Việt Nam coi Truyện Kiều là đỉnh cao của cổ tích dân gian viết bằng thể lục bát truyền thống.
 
 
Tháp tùng GS TS Nguyễn Tài Cẩn viếng Mộ Đại thi hào Nguyễn Du, 2007

***

Thời trường huyện tôi mang máng rằng “tích” Thúy Kiều khởi phát từ Hàng Châu, mấy năm sau lại neo giữ trong bộ nhớ ý kiến của học giả Phạm Quỳnh rằng, nguyên tác Truyện Kiều của Thanh Tâm tài nhân chỉ là cuốn truyện tầm thường. Mãi năm 2006-tức 186 năm sau kể từ khi cụ Nguyễn Du quy tiên, tôi mới có dịp đến cố đô Hàng Châu mắc màn chỉ để tìm xem “cái bề lõm của tấm huân chương”, nếu mà phải nói trắng ra thì là tìm căn nguyên vì sao cũng đều khai thác “tích” Thúy Kiều để viết về đề tài này, vậy mà hơn nửa tá cây bút sinh ra lớn lên trên đất nước Trung Hoa “có tích vẫn không dịch nên tuồng”?
 
Đến Hàng Châu chiều hôm trước, hôm sau tôi tách đoàn, vẫy taxi để tìm vết “tích” Thúy Kiều làm kỷ niệm. Từ khách sạn bên bờ sông Tiền Đường nhìn rõ cầu Kiều đã bằng cốt sắt bê tông, đi chừng dăm bảy cây số thì đến. Một mình bách bộ trên cầu Kiều dài ngoằng ngoẵng, lẫn giữa nườm nượp dòng xe dòng người, tôi thầm so cầu Kiều với cầu Bến Thủy nối đôi bờ Lam xứ Nghệ quê mình. Về độ dài của hai cây cầu đều trên dưới vài cây số, coi như bằng nhau.Về tên của sự vật được lưu giữ trong tâm thức dòng đời, tên gọi cầu Kiều tại Hàng Châu xưa gấp nhiều lần tên gọi cầu Bến Thủy, song điều làm tôi hụt hẫng không vì độ tuổi dài ngắn của tên gọi hai cây cầu; mà vì dòng Tiền Đường hiện ra trước mắt không còn trong xanh như suy nghĩ của tôi về dòng Tiền Đường trong tác phẩm Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du.
 
Tôi cố tìm dấu tích nàng Kiều sắc nước hương trời mà đành phải đằng đẵng 15 năm đầm đìa nước mắt, đến nay người đời vẫn chưa cân đong nổi trong đó có bao nhiêu nước mắt của nàng và bao nhiêu nước mắt của cụ Nguyễn Du. Ngập giữa dòng xe dòng người ầm ào chuyển động, tôi rảo bước dọc theo cầu Kiều từ lâu đã bằng cốt sắt bê tông, cảm nhận rõ dưới chân mình cây cầu đang lên cơn động kinh. Chăm chú dõi theo từng mét lan can thành cầu, tôi cố tìm bóng dáng nàng Kiều nức nở trước khi gieo mình xuống dòng Tiền Đường mà chẳng thấy đâu. Trái lại điều tôi cảm nhận rõ là cây cầu như con trăn khổng lồ đang chuyển động dưới chân, thực trạng quá tải càng ngày càng gia tăng khiến nó rung lắc rất mạnh. Không còn hứng thú với cả hiện thực trước mắt và rung động từ tác phẩm, trở về khách sạn mà sao tôi vẫn tin “tích” Thúy Kiều là có thật, nhiều người từng dựa bờ vai của nàng để viết thành sách, song chỉ có “Thánh văn Tiên Điền” mới làm nên tuyệt tác Truyện Kiều của Việt Nam và của chung thế giới.
 
Ngồi tại bàn trà trong khách sạn bên bờ sông Tiền Đường, chúng tôi nghe nữ hướng dẫn viên người Hoa từng theo học tại khoa Tiếng Việt, trường Đại học KHXH&NV Hà Nội, kể: Hồ Tôn Hiến là đại thần có thật, ông sinh năm 1512, mất năm 1565, đỗ Tiến sĩ đời Minh Thế Tông, là nhà quân sự đánh dẹp nhiều cuộc nổi loạn, được thăng Thái tử thái bảo, giữ chức Đô Sát Viện Tả Đô Ngự Sử kiêm Thượng thư bộ Binh. Hồ Tôn Hiến là người đầu tiên cho thuộc cấp chép lại việc đánh dẹp Từ Hải, bắt Vương Thúy Kiều. Ông này còn là nhà viết văn viết sử đời Minh; về sau liên kết bè cánh tạo biến cố Canh Tuất (1550), ông bị bắt giam rồi tự tử trong ngục. Từ chuyện người thật việc thật ấy, về sau các văn nhân Trung Quốc phóng tác thành nhiều tiểu thuyết khác nhau, đến cuốn Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân đời nhà Thanh mới là “nguyên tác” để Nguyễn Du viết Truyện Kiều Việt Nam bằng chữ Nôm.
 
Tại cuộc đàm đạo ấy mấy Nhà báo trong đoàn giục tôi làm hướng dẫn viên bất đắc dĩ để góp chuyện về Đại thi hào Nguyễn Du, cốt để cô hướng dẫn viên người Hoa hiểu thêm, tôi nói đại thể là: Người Việt có câu “một tiếng khỉ ho hơn vạn tiếng cò gáy”, cái tài của cụ Nguyễn Du đâu phải do “tích” quyết định. Như bạn đã biết cũng “tích” ấy, cũng Vương Thúy Kiều ấy, song một đống tác phẩm của nhiều tác giả (tôi tế nhị không nói rõ là người nước nào) đã biến mất từ lâu. Cụ Nguyễn Du chúng tôi vừa tâm linh vừa trần thế, cụ tài hơn người khác là đã khắc họa thành công, Việt hóa thành công thế giới nội tâm, tính cách, tâm lý của cả hệ thống nhân vật, điều mà ngay tại cố hương sinh ra “tích” Thúy Kiều cũng chẳng ai làm được. Nếu bạn có dịp bơi trong Truyện Kiều của Việt Nam sẽ thấy Nguyễn Du trách trời thì ít, căm ghét bọn bất lương (cụ gọi là đầu trâu mặt ngựa) đang nhung nhúc nơi trần thế thì nhiều !
 
Cụ Nguyễn Du mất năm 1820 tại Huế, an táng tại cánh đồng Bàu Đá, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên. Nhà vua được tin Thánh thơ mất đã vô cùng thương xót, ban tên thuỵ là "Trung Thanh", phúng điếu tiền bạc và đôi câu đối: 
 
          Nhất đại tài hoa, vi sứ, vi khanh sinh bất thiểm
 
          Bách niên sự nghiệp, tại gia, tại quốc tự do hương.
 
(Một kiếp tài hoa khi làm sứ, lúc làm khanh sống không hổ thẹn. Trăm năm sự nghiệp việc nhà, việc nước chết vẫn còn thơm).
 
Đôi câu đối này được con cháu tạc khắc nay vẫn còn trước Nhà thờ. Năm 1824 gia quyến vào Huế dời mộ cụ về quê làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Có dịp sang Việt Nam mời bạn đến thăm Khu Di tích Đại thi hào Nguyễn Du, bạn sẽ thấy khu mộ Đại thi hào-ngọn tháp thi ca Việt Nam, khiêm nhường giữa “thập loại chúng sinh”. Cụ quy tiên tới nay đã gần hai thế kỷ mà nước Nam chưa có văn tài nào chinh phục nổi ngọn tháp thi ca Truyện Kiều. Mấy đời vua từng về Tiên Điền dâng hương, bao văn tài võ tướng từng nghiêng mình trước nấm đất nhỏ nhoi, trong khi các cụ già quê tôi trước tới nay không gọi cụ là Đại thi hào mà gọi là "Thánh Tiên Điền". Hiếm thấy Nhà thơ nào được người đời thần thánh hóa như cụ Nguyễn Du.
 
Bạn hỏi vì sao Truyện Kiều Việt Nam có sức cuốn hút kỳ diệu đến như thế ? Theo cạn nghĩ của tôi, đằng sau áng văn chương bất hủ là sự đồng điệu về suy nghĩ, về tâm hồn, về ước mơ của bao người đang sống. Trong lãng đãng khói hương kính cẩn viếng cụ, ai cũng được phút giây gột rửa bụi trần bằng thi ca tinh khiết, được cảm nhận cảnh và tình, được ngưỡng vọng chữ Tâm chữ Tài kết tinh trong tuyệt tác Truyện Kiều. Nhiều người đã khóc bởi nghệ thuật sáng tạo trong Truyện Kiều khởi từ máu thịt cuộc đời, nên đứng trước khu mộ Đại thi hào bạn sẽ được dịp soi mình trong ĐẠO LÀM NGƯỜI đã thành truyền thống của dân tộc Việt Nam.
 
Giao Hưởng
CHIA SẺ ĐẾN BẠN BÈ: