HOTLINE: 0904 89 4444

Từ ngữ Hán Việt: Tiếp nhận và sáng tạo
(Phương Nam Plus) - Từ ngữ Hán Việt là cuốn sách của nhóm tác giả: PGS.TS. Phạm Hùng Việt (Chủ nhiệm đề tài), PGS.TS. Lê Xuân Thại, GS.TSKH. Lý Toàn Thắng, TS. Trịnh Thị Hà (Thư kí đề tài), PGS.TS. Nguyễn Hoàng Anh, TS. Nguyễn Thị Tân, NCS. Nguyễn Thị Huyền, CN. Dương Thị Thu Trà, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2018, 392 tr. 16x24cm.
15:27 04-03-2019
Công trình chính là kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học “Từ ngữ Hán Việt: Tiếp nhận và sáng tạo” do Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ quốc gia (NAFOSTED) tài trợ. Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam  là cơ quan chủ trì.
 

Cuốn sách tập trung vào một số nội dung: 1. Nghiên cứu lí thuyết chung về từ ngữ ngoại lai làm cơ sở lí thuyết cho việc khảo sát về từ ngữ Hán Việt; 2.  Khảo sát những điểm đặc sắc của từ ngữ Hán Việt trên các bình diện cấu tạo, ngữ nghĩa, giá trị phong cách và dụng học; đặc biệt là những cách thức “Việt hóa” hay sáng tạo mới (trong tiếng Hán không có) của cha ông ta; 3. Khảo sát những hạn chế trong việc giải nghĩa yếu tố Hán Việt, xây dựng chủ trương, thái độ đúng đắn trong việc chuẩn hóa từ ngữ Hán Việt; 4. Khảo sát việc sử dụng từ ngữ Hán VMọi dân tộc trên thế giới không tồn tại như một thực thể đơn nhất.  Cũng như vậy, mọi ngôn ngữ cũng không thể tồn tại một cách khép kín, biệt lập. Vay mượn là một hiện tượng bình thường của mọi ngôn ngữ khi có sự giao lưu, tiếp xúc. Đó là sự “hòa trộn” các nhân tố ngoại lai vào một ngôn ngữ bản địa. Lịch sử của quá trình tiếp xúc lâu dài với tiếng Hán, chữ Hán đã đem lại một số lượng lớn các từ Việt mượn từ tiếng Hán (mà ta vẫn gọi là từ Hán Việt).iệt từ một số bình diện khác, như phong cách học, thành ngữ học, từ điển học.

Có rất nhiều ý kiến xung quanh khái niệm "vay mượn ngôn ngữ". Bởi quá trình vay mượn này diễn ra  rất đa dạng, phức tạp, bị nhiều nhân tố không gian và thời gian chi phối (từ ngôn ngữ nguồn, ngôn ngữ trung gian đến ngôn ngữ tiếp nhận). Cuốn sách đã trình bày những vấn đề liên quan tới cách thức vay mượn, từ nhiều khả năng: a) vay mượn gắn với tình huống "bảo trì/cấp dưỡng" (maintenance) ngôn ngữ; b) vay mượn là một kiểu "chuyển nhượng" (transference); c) vay mượn là một kiểu "hòa trộn" (incorporation). Theo các tác giả, trong quá trình "nhập khẩu", "vay mượn" sẽ xảy ra quá trình "thu nhận", "thích ứng", "tích hợp" để tạo nên một số từ mới đối với ngôn ngữ được coi là vay mượn. Như vậy là quá trình giao thoa và chuyển di không đơn giản chỉ là "không có thì mượn", "mượn thế nào cũng được", v.v.

Toàn bộ cuốn sách đã toát lên tinh thần, đúng như một phần tên gọi của nó "Tiếp nhận và sáng tạo". Có tới 3 chương diễn giải vấn đề này, thuộc 3 cấp độ khác nhau; 1) Yếu tố Hán Việt - "đơn vị ngữ pháp nhỏ nhất, có kích thước ngữ âm là một âm tiết, gốc Hán, đọc theo cách đọc Hán Việt, được sử dụng trong tiếng Việt" (tr. 89); 2) Từ ghép Hán Việt - "bao gồm lớp từ 1 (mượn nguyên khối) và lớp từ 2  "do Việt tạo bằng cách vay mượn yếu tố cấu tạo và mẫu cấu tạo của tiếng Hán, chúng không có trong từ điển tiếng Hán" (tr. 174); 3) Thành ngữ Hán Việt - "được nhận diện từ phương diện nguồn gốc và cách thức Việt hóa về ngữ âm. Cách gọi này (thành ngữ Hán Việt) cho phép hiểu thành ngữ có các yếu tố cấu tạo đều là yếu tố Hán Việt" (tr. 247).
 
Theo các tác giả, cách đọc Hán Việt “bắt nguồn từ hệ thống ngữ âm tiếng Hán đời Vãn Đường, chịu sự chi phối của hệ thống ngữ âm tiếng Việt” là ưu thế khiến cho tiếng Việt tiếp nhận số lượng lớn so với các yếu tố ngoại lai khác (bên cạnh nhân tố lịch sử - xã hội). Việc tiếp nhận xảy ra với các bình diện: ngữ âm (sử dụng biến thể đồng âm, biến thể bài xích lẫn nhau), ngữ pháp (cách dùng các kết hợp Hán Việt, khả năng tổ hợp). Sự tiếp nhận yếu tố Hán Việt ở cương vị từ đã được các tác giả xem xét, so sánh với các kết quả nghiên cứu trước đó của Phan Ngọc, Nguyễn Văn Khang, Lê Đình Khẩn… và đưa ra cách giải thích hợp lí (trên cơ sở khảo sát hàng nghìn các yếu tố).
 
Trong phần bàn về từ ghép (chương III), liên quan tới các lớp từ khác nhau: 1. Các từ đa yếu tố được mượn nguyên khối (độc lập, tự do, hạnh phúc, thế giới, hải quân…); 2. Các từ được cấu tạo bằng các yếu tố Hán Việt từ tiếng Hán do Việt Nam tạo ra (giảng viên, hoa hậu, loạn thị, phát thanh, thuyền viên…); 3. Các từ được cấu tạo bằng các yếu tố Hán Việt theo mô hình cấu tạo từ tiếng Việt do Việt Nam tạo ra (tiền chiến, tiền sử, nội thành, trưởng tộc, binh nhất…); 4. Các từ được cấu tạo bằng yếu tố Hán Việt tổ hợp với yếu tố phi Hán Việt theo mô hình cấu tạo từ tiếng Hán hoặc theo mô hình cấu tạo từ tiếng Việt…
 
Tiếng Việt đã có sự sáng tạo để tạo nên từ ghép mới theo nhiều cách thức: a) theo phương thức ẩn dụ, vd: am (tiếng Hán: nhà nhỏ, miếu nhỏ; tiếng Việt: nhà ở hẻo lánh của người ở ẩn thời phong kiến), trường (tiếng Hán: nơi tụ tập đông người, tiếng Việt: nơi giảng dạy, đào tạo học sinh, sinh viên); b) theo phương thức hoán dụ, vd: ương (tiếng Hán: cây non hoặc dùng chỉ vật non (cá bột), tiếng Việt: hoạt động làm thành cây non (vườn ương/ươm), hoạt động làm cho trứng cá nở (ương cá bột)…
 
Điều đáng lưu ý là phần nghiên cứu về Từ ghép Hán Việt Việt tạo (tr. 200-218), với những trường hợp: 1) Từ ghép Hán Việt Việt tạo bộ phận (đạo điện → dẫn điện, chu tế  → chu cấp, thư báo  → sách báo…) ; 2) Từ ghép Hán Việt Việt tạo hoàn toàn (kí lục → biên bản, tá liệu → gia vị, biên tả → soạn thảo…); 3) Từ ghép Hán Việt Việt tạo theo phương thức nói tắt (ngữ ngôn tài liệu → ngữ liệu, lão niên khoa → lão khoa, cao cấp ủy viên → cao ủy…), v.v.
 
Phần bàn về sự tiếp nhận và sáng tạo trong phạm vi thành ngữ (chương IV), các tác giả cho rằng “Thành ngữ Hán Việt đã thực sự tồn tại và hoạt động trong tiếng Việt dưới những dạng thức khác nhau, khiến cho việc nhận diện, gọi tên và phân loại trở nên phức tạp” (tr. 251). Vì vậy, phải “xem xét ngay từ bước đầu tiên du nhập vào tiếng Việt, và tiếp đó gắn với cả quá trình hoạt động dưới quy luật của tiếng Việt – một quá trình đồng hóa diễn ra với hàng loạt vấn đề…” (tr. 252).
 
Các tác giả đã miêu tả thành ngữ Hán Việt về: 1) hình thái cấu trúc (đối điệp, so sánh); 2) khả năng Việt hóa cấu trúc (giữ nguyên, thay đổi, tự tạo). Từ đây, các tác giả  chỉ ra đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ Hán Việt. Đó là vấn đề đáng lưu ý, bởi ngữ nghĩa sử dụng các thành ngữ gốc có những diễn biến khác nhau. Có thành ngữ giữ nguyên nghĩa (nan đệ nan huynh); thay đổi nghĩa (tác oai tác phúc → tác oai tác quái); phát triển nghĩa (cao lưu sơn thủy – tiếng Hán là “tri âm tri kỉ hoặc khúc nhạc hay”, tiếng Việt thêm nghĩa “núi sông, nơi thiên nhiên thanh tĩnh”); có thành ngữ do người Việt tạo ra trên cơ sở tiếng Hán (hào hoa phong nhã, yểu điệu thanh tân), v.v. Những phân tích tiếp theo về thành ngữ Hán Việt Việt tạo (tạo bộ phận, tạo toàn bộ) làm sáng tỏ nhiều điều về quá trình tiếp xúc, tiếp nhận các thành ngữ Hán sao cho thích ứng với cách sử dụng của người Việt.
 
Đặc biệt, dựa vào từ điển tiếng Việt, qua thống kê chi tiết của mình, các tác giả cho thấy số lượng từ Hán Việt trong vốn từ tiếng Việt phổ thông hiện tại chỉ chiếm 35,15% (14.933/45.850). Số liệu này thực sự gây sửng sốt với giới nghiên cứu và với đa số mọi người. Vì theo thống kê trước đây của H. Maspéro (1912; dẫn theo Lê Đình Khẩn, 2002) thì số lượng từ Hán Việt chiếm trên 60%. Nhận định này chắc sẽ gây tranh cãi và việc tiếp tục có những công trình khảo cứu để đi đến một kết luận đầy đủ cơ sở hơn là cần thiết.
 
Có thể nói, theo tiến trình lịch sử, trong sự tiếp xúc giao lưu, tiếng Việt có tiếp nhận, nhưng tiếp nhận một cách chủ động và sáng tạo nhằm làm giàu thêm tiếng nói của mình. Cuốn sách “Từ ngữ Hán Việt: Tiếp nhận và sáng tạo” là một công trình nghiên cứu công phu, có tính thời sự, rất bổ ích. Những kết quả mà cuốn sách khẳng định cho thấy giá trị trường tồn, tinh thần dân tộc và bản sắc tiếng Việt vẫn được giữ vững sau cả một thời gian gần một nghìn năm Bắc thuộc.
 
PGS TS Phạm Văn Tình
CHIA SẺ ĐẾN BẠN BÈ: