HOTLINE: 0904 89 4444

Tháng 7 tri ân: Xin đừng gọi anh là liệt sỹ vô danh
(Phương Nam Plus) - “Việt - Lào hai nước chúng ta/ Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”. Đó là câu nói bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tình hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào.
16:05 25-07-2019
Trải khắp dải đất hình chữ S thân yêu cũng như trên đất nước Triệu Voi có không biết bao nhiêu địa danh, công trình lưu giữ những chứng tích cho mối quan hệ đặc biệt của hai dân tộc anh em Việt Nam - Lào. Nghĩa trang liệt sỹ Việt - Lào là một trong số đó. Điều đặc biệt là di tích này vinh dự được mang tên của cả hai nước. 

Hễ đến tháng 7, người dân cả nước đều hướng về ngày thương binh liệt sỹ, là ngày mà chúng ta tưởng nhớ, ghi tâm, hoài niệm và hồi tưởng những gì mà ông, cha, anh đã làm để bảo vệ bình yên cho non sông này. Về với nghĩa trang Việt Lào, ta mới thấu hết được cái “tình”, sự “hi sinh” của những anh hùng, liệt sỹ đã ngã xuống, không chỉ vì độc lập dân tộc, mà vì một nước bạn Lào “ruột thịt”. 
 


Nghĩa trang liệt sỹ Quốc tế Việt - Lào tại huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An

Hồi ức linh thiêng

Trong những năm kháng chiến, thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ kính yêu: “Giúp bạn là tự giúp mình” và với tình cảm quốc tế trong sáng dành cho nước láng giềng anh em, hàng ngàn quân tình nguyện Việt Nam đã dũng cảm rời quê hương sang nước bạn chiến đấu, không một chút so đo, tính toán.

Trải qua hai cuộc kháng chiến giúp nước bạn Lào chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, lực lượng quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào đã luôn kề vai, sát cánh và cùng với bạn, vừa chiến đấu chống địch càn quét, lấn chiếm; vừa tiến hành xây dựng và củng cố các đoàn thể, chính quyền kháng chiến, xây dựng và bảo vệ vùng giải phóng, tăng cường lực lượng vũ trang, phát triển chiến tranh du kích trên khắp các khu vực Thượng, Trung và Hạ Lào. Các chiến sỹ ta đã coi đất nước Lào như quê hương thứ hai của mình và thực hiện đúng lời Bác Hồ kính yêu đã dạy: “Phải biết yêu thương sông núi, cỏ cây, nhân dân Lào như yêu thương chính cỏ cây, sông núi, nhân dân Tổ quốc Việt Nam”... Chính vì vậy mà quân tình nguyện Việt Nam đi đến đâu cũng nhận được tình cảm yêu mến của nhân dân Lào.

Trong số hàng ngàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự ấy có không biết bao nhiêu anh hùng đã ngã xuống trên đất nước Triệu Voi. “Mồ hôi, xương máu của chiến sỹ và chuyên gia Việt Nam hòa quyện cùng xương máu, mồ hôi của chiến sỹ và nhân dân Lào góp phần vun đắp, bảo vệ, phát triển tình hữu nghị đoàn kết liên minh chiến đấu đặc biệt Việt Nam - Lào, một quy luật, một nhân tố hết sức quan trọng bảo đảm thắng lợi cách mạng hai nước, một mẫu mực về mối quan hệ quốc tế trong sáng, một di sản vô cùng quý giá của hai dân tộc” - (Đại tướng Võ Nguyên Giáp).

Để ghi nhớ và tri ân các anh hùng liệt sỹ quân tình nguyện Việt Nam đã kề vai sát cánh với quân giải phóng Pa-thét chiến đấu bảo vệ 2 đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã cho xây dựng một nghĩa trang đặc biệt mang tên cả 2 Tổ quốc để làm nơi yên nghỉ cho những người lính tình nguyện Việt Nam đã chiến đấu và hy sinh trên đất nước Lào. Đó là Nghĩa trang liệt sỹ Việt - Lào.

Nghĩa trang liệt sĩ Việt - Lào với diện tích 7 ha, nằm ở trung tâm thị trấn Anh Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An, là một trong những công trình biểu trưng cho tinh thần đoàn kết, tình hữu nghị và truyền thống đặc biệt của hai nước Việt - Lào. Nơi đây là chốn an nghỉ của hơn 11.000 anh linh cán bộ quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam hy sinh trên chiến trường nước bạn.

Một nghĩa trang đặc biệt mang tên 2 quốc gia, nghĩa trang liệt sĩ Việt - Lào nơi yên nghỉ cho những người lính tình nguyện Việt Nam đã chiến đấu và hy sinh trên đất nước Lào, sự gắn bó keo sơn, sự gắn kết không rời. Đây là một trong những địa chỉ “Đỏ” về giáo dục truyền thống uống nước nhớ nguồn cho những thế hệ sau này. 
 


Đường vào Nghĩa trang liệt sỹ Việt - Lào
 
Năm 1976 nghĩa trang liệt sỹ Việt Lào được xây dựng. Đến năm 1982, với tình cảm uống nước nhớ nguồn, Đảng và Nhà nước ta đã quyết định đưa toàn bộ hài cốt liệt sĩ hy sinh ở nước bạn Lào về nước, quy tụ tại Nghĩa trang liệt sỹ Việt - Lào. Nghĩa trang có 2 khu: Khu A và khu B. Trong đó, khu A gồm 9 lô liệt sĩ với tổng số 5.381 mộ. Khu B gồm có 13 lô mộ liệt sĩ với tổng số 5.219 mộ và một lô mộ tử sỹ có 11 mộ. Tính từ khi xây dựng cho đến nay, nghĩa trang đã tiếp nhận và chăm sóc gần 11.000 hài cốt các liệt sĩ hi sinh trên chiến trường nước bạn Lào về đây an nghỉ.

Ráng chiều nhuộm đỏ trời Anh Sơn. Những bông hoa tím vẫn đỏ thắm, lá vẫn cứ rì rào trước gió, như trêu đùa nhau. Tôi rảo bước và chậm lại, vái ba vái trước những nấm mộ không rõ tên tuổi hay quê quán, phảng phất mùi nhang đâu đây. Đọc kĩ từng dòng chữ viết trên bia mộ, dường như... các cha, anh hi sinh khi còn rất trẻ. Và... những nấm mộ chỉ mới đưa về quy tụ nơi đây, vì dấu sơn còn mới lắm. Liếc mắt, không chỉ có liệt sĩ ở Nghệ An, mà còn có rất nhiều liệt sĩ ở các vùng quê khác nhau. Các anh thật anh dũng, sẵn sàng hiến dâng cả thanh xuân, cả tuổi trẻ để làm tròn nghĩa vụ “giúp bạn cũng là để bảo vệ đất nước mình”.

Dưới cái nắng gắt của trời xứ Nghệ, nắng như nhuộm cả “ngôi nhà chung” của các anh. Các anh nằm đây có lẽ đang rất tự hào vì sự hi sinh của mình không vô nghĩa, tự hào vì sự hi sinh của mình mang lại bình yên, độc lập cho đất nước bạn cũng là bảo vệ Tổ quốc này. 

Tình cảm keo sơn, gắn bó thủy chung, sẵn sàng hy sinh vì nhiệm vụ cao cả của các liệt sỹ đã được Giáo sư Phan Ngọc thể hiện qua bài phú gồm 408 chữ khắc trên bia đá trong Nghĩa trang liệt sỹ Việt - Lào bằng 2 ngôn ngữ Việt - Lào. Trong đó có đoạn:

"Nhân dân Việt Nam
Hào kiệt giống nòi, hiên ngang đất tổ
Hòa bình, độc lập, lẽ sống muôn đời; dân chủ, tự do, ước mơ vạn thuở.

Gặp thời đen tối, hai nước Việt - Lào, ách nô lệ đọa đày; được Đảng sáng soi một cõi Đông Dương đường cứu nguy vạch rõ...

Máu hòa vào máu, cánh Đồng Chum, Xiêng Khoảng, Thà Khẹt, ta cùng bạn hy sinh; xương lẫn với xương, Át-tô-pơ, Khăm Muộn, Viên Chăn, bạn cùng ta quyết tử.

Tình đoàn kết ấy dòng Cửu Long bao la, nghĩa thủy chung này dải Trường Sơn vững chãi...

Và cứ hàng năm, đội quy tập hài cốt liệt sĩ thuộc Quân khu IV tổ chức hàng chục đội quy tập trên khắp những ngả đường Trường Sơn, vùng thượng Lào, Sa-va-na-khẹt. Những con người một thời hy sinh cho đất Mẹ được trường tồn vĩnh cửu nay đã hòa tan vào đất. Rất nhiều, rất nhiều người đã không hay biết được tên. Nghĩa trang liệt sĩ Việt - Lào hiện có khoảng 6.900 phần mộ chưa rõ tên và quê và 570 mộ có tên, nhưng chưa rõ quê. Trong những ngôi mộ ấy có ngôi mộ có từ thời mới xây dựng nghĩa trang cho đến những ngôi mộ mới nhất, dấu sơn vẫn còn tươi mới. Không biết được các anh là ai, song các anh đã nghỉ lại đây, trên đất Mẹ thân thương này. 
 


“Việt - Lào hai nước chúng ta/Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”

Đừng gọi anh là liệt sỹ vô danh

43 năm đã trôi qua, kể từ khi xây dựng cho đến nay, Nghĩa trang liệt sĩ Việt - Lào trở thành chốn đi về của bao thân nhân gia đình liệt sĩ. Nơi đây đã trở thành một địa chỉ đỏ, một điểm giáo dục truyền thống cho các thế hệ trẻ và nhân dân huyện nhà. Cứ độ tháng 7, Ban Quản lý Nghĩa trang liệt sĩ Việt - Lào đã đón tiếp hàng vạn khách đến thắp hương, thăm viếng, tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì độc lập, tự do của cả hai dân tộc. Đối với chính quyền và nhân dân huyện Anh Sơn họ luôn tự hào và vinh dự khi được chung tay chăm sóc phần mộ cho hàng nghìn anh hùng liệt sĩ. 

Lần đầu tiên tôi đến nghĩa trang Việt - Lào, dưới cái nắng bỏng rát tháng 7, tôi vẫn thấy dịu trong lòng. Nơi đây bình yên đến lạ, có những hàng cây ngả bóng xuống những nấm mộ, che mát những nấm mộ đấy. Dọc hai bên đường, những bông hoa tím khoe sắc tỏa hương thơm ngát như tri ân các anh. Ngay giữa trung tâm đài tưởng niệm, những vòng hoa viếng xếp ngay ngắn, trang nghiêm. Và trên mỗi nấm mộ, những bông hoa được xếp ngay cùng với cờ của hai nước Việt - Lào. 

Nghĩa trang liệt sỹ Việt - Lào là công trình biểu tượng tình đoàn kết thủy chung, son sắt của hai dân tộc anh em. Chiến tranh đã lùi xa, nhưng dư âm của nó vẫn còn trong mỗi làng quê, con phố khắp đất nước Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Máu đào của các chiến sỹ đã nhuốm lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh của các liệt sỹ đã chuẩn bị cho đất nước nở hoa độc lập, kết quả tự do”. Và không chỉ chiến đấu cho đất nước mình, những chiến sỹ tình nguyện Việt Nam đã không tiếc tuổi thanh xuân của mình cho nhiệm vụ quốc tế cao cả, cho tình hữu nghị giữa Việt Nam với các nước láng giềng bè bạn...

Các anh nằm đây giữa lòng đất Mẹ. Dù trên tấm bia đá kia có ghi tên tuổi cụ thể hay chỉ là dòng chữ “Liệt sỹ chưa rõ họ tên” thì các anh cũng không bao giờ vô danh. Các anh mãi mãi là những người con anh hùng của một dân tộc anh hùng:

"...Xin đừng gọi Anh là liệt sỹ vô danh
Anh từng có tên như bao khuôn mặt khác
Tổ quốc không đánh mất tên Anh
Chỉ lặng thầm nhận về mình nỗi đau xanh cùng năm tháng".

(Xin đừng gọi anh là liệt sỹ vô danh - Văn Hiền)

 
Nguyễn Diệu
CHIA SẺ ĐẾN BẠN BÈ: