HOTLINE: 0904 89 4444

Sơn La: Người dân chán nản vì trồng rừng cao su?
(Phương Nam Plus) - Điều đáng nói là phía người đứng đầu những địa phương có diện tích rừng cao su; có nơi cán bộ rất chia sẻ với bà con khi giá mủ cao su xuống thấp, hiệu quả kinh tế từ cây cao su chưa khả quan, khiến đời sống của bà con gặp không ít khó khăn. Song cũng có địa phương, cán bộ đổ hoàn toàn lỗi do bà con lười lao động, đòi hỏi quá mức; bất biết đời sống của bà con của mình đang chật vật thế nào.
14:39 10-04-2019

Thu nhập trên lý thuyết và thực tiễn

Theo lời ông Hồ Anh Đức (TGĐ Công ty Cao su Sơn La) trong cuộc trao đổi với chúng tôi, với cây cao su, sau tám năm đầu gọi là giai đoạn kiến thiết cơ bản, thì 20 - 22 năm sau là giai đoạn khai thác mủ, đây cũng sẽ là hơn hai mươi năm mang lại thu nhập ổn định cho bà con. Chưa kể sau ba mươi năm, khi không còn mủ để khai thác nữa thì cao su đã là cây gỗ lớn, thanh lý gỗ cao su theo mức giá gần đây, thì mỗi hecta cho một khoản thu từ 300 - 600 triệu đồng.

Ông Đức nói: “Như ở xã Ít Ong (H. Mường La) đã sang năm thứ tư cạo mủ, hộ nào nhận làm nhiều thì thu nhập của họ lên đến 12 - 13 triệu đồng/ tháng, còn trung bình là 4 - 5 triệu đồng/tháng (đây là tiền chia 10% giá trị sản lượng/hecta cho hộ góp đất, bà con gọi là chia cổ phần - PV)”. Ông cũng cho rằng cây cao su phải đến năm thứ chín mới bắt đầu khai thác được mủ chứ không phải 6 - 7 năm như lời của bà con.


Thế nhưng, ở xã Tông Lạnh (H. Thuận Châu), trong tổng 1,6 hecta của gia đình ông Lường Văn Chương, có 0,63 hecta đã được cạo mủ hai năm nay, mà tiền chia cổ phần ông Chương nhận được chỉ vỏn vẹn hơn một triệu đồng cho cả hai năm. Cùng bản Lạnh với ông Chương là nhà ông Quàng Văn Luân góp đến 7 hecta đất cho công ty cao su. Nghe nhắc đến hiệu quả của việc góp đất trồng cao su, bà vợ ông Luân cứ ời ời kêu: “Góp đất 11, 12 năm rồi mà chưa có kết quả, chưa ăn thua gì đâu. Con nhà tôi làm kỹ thuật dưới công ty, lương thấp lắm, đến ngày trả lương còn chẳng có lương đâu”.
 
Ông Lường Văn Hạnh - Phó Chủ tịch UBND xã Tông Lạnh nói không cần nhìn sổ sách: “Tông Lạnh có 61 công nhân làm cho công ty cao su, 40 công nhân có đóng bảo hiểm, còn 21 công nhân theo thời vụ. Lương trung bình bây giờ chỉ 1,2 triệu/tháng. Riêng bản Lạnh trước có đến 60 - 70 công nhân, nhưng bây giờ bỏ gần hết, chỉ còn lại vài người”.
 
 
Ông Chương - người nhận hơn một triệu đồng tiền “cổ phần” sau hai năm 0,6 hecta cao su trên đất nhà mình cho mủ
 
Tại dân lười lao động?
 
Xã Mường Bon (H. Mai Sơn, tỉnh Sơn La) có 300 hecta rừng cao su, 8 bản tham gia góp đất. Từ năm 2009 đến 2012, cây cao su đang lớn, phát triển tốt, công việc nhiều, cây lại chưa khép tán nên bà con vẫn xen canh được một vài loại cây khác. Từ năm 2013 công việc ít dần. Năm 2014 - 2015 thì cây cao su khép tán, không trồng xen được nữa. Cỏ rả thưa dần, cây đang giai đoạn phát triển nhất nên cũng không cần nhiều công bón phân, chăm sóc. Sản lượng khai thác mủ thì thấp.
 
Câu chuyện của gia đình Quàng Văn Hạnh cứ xoáy mãi vào tâm trí chúng tôi: Do không xoay được đủ tiền đóng học phí cho con, nên khi con anh hết năm học của lớp mẫu giáo lớn, cháu không được giấy khen. Số tiền bố cháu đóng thiếu chỉ 50 nghìn đồng. Bà nội tuổi 70 của cháu thì ngày ngày vẫn đi mò cua, bắt ốc kiếm sống.
 
Trước thực tế của bà con xã nhà, ông Lường Văn Dương - Chủ tịch UBND xã nhận định: “Người ta kêu nghèo là do chưa cố gắng, nỗ lực vươn lên”. Ông Tòng Văn May - Phó Bí thư Đảng uỷ xã cũng có ý kiến tương tự: “Dân có ý kiến này ý kiến kia là vì dân lười lao động. Đã lười thì đến cháo cũng không có mà ăn. Ở đây có nhà máy sắn, nhà máy mía đường mà họ có chịu xin vào làm đâu. Lương 4 - 5 triệu là được rồi, chứ bây giờ đòi đến 8 triệu thì ở đâu ra?

Khác với sự “đổ vấy” tất cả cho người dân của cán bộ xã Mường Bon. Ông Phó Chủ tịch UBND xã Tông Lạnh - Lường Văn Hạnh rất chia sẻ: “Đánh giá phát triển cây cao su về môi trường thì được, bảo vệ đất đai, chống xói mòn. Nhưng về kinh tế là không ổn. Tương lai thì kinh tế của bà con chắn chắn cũng bị ảnh hưởng thôi. Người dân muốn có hỗ trợ một chút, nhưng nhiều hộ 10 năm nay chưa có hỗ trợ gì”. Ông Trần Hữu Hùng - Trưởng phòng Nông nghiệp huyện Thuận Châu không giấu được trăn trở: “Tôi mới nhận công tác được 5 - 6 tháng, trước tôi tăng cường làm Chủ tịch UBND xã, nơi đó không có rừng cao su, nhưng về đây thì đau đầu với cây này. Cây cao su bây giờ là vấn đề đang nhức nhối và rất khó, bà con bỏ cũng không bỏ nổi, vì 10 năm rồi, mà cây - tài sản lại là của quốc gia, nó là chủ trương lớn không bỏ được”.
 


Nhắc đến cây cao su là bà con thẫn thờ

Những bản hợp đồng vá lại sự rệu rã
 
Khi dân góp đất trồng cao su theo chủ trương lớn của tỉnh Sơn La, hơn 7.300 hộ dân đã đóng góp hơn 6.000 hecta chủ yếu là đất nương rẫy gia đình canh tác đã lâu năm. Đó là diện tích được UBND huyện giao để sử dụng lâu dài, hoặc đất nông nghiệp giao cho các hộ sử dụng trong hai mươi năm. Trong đó có những hộ đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ), có những hộ chưa. Khi đó, dù đã góp nhiều nghìn hecta đất, song giấy tờ liên quan mà công ty cao su làm suốt mười năm chỉ là sổ sách liệt kê diện tích góp của từng hộ. Đến tận cuối năm 2018, đầu năm 2019, khi bà con đã quá chán nản, đã không còn lòng tin vào sự “ổn định kinh tế” của cây cao su nữa, thì công ty cao su mới bắt đầu ký kết hợp đồng với bà con.
 
Sổ đỏ của bà con do các phòng quản lý đất đai của Sở Tài nguyên - Môi trường tỉnh Sơn La giữ, để cả phía bà con hay công ty cao su đều không thể mang sổ đỏ đi… cầm cố. Vậy là, trong giai đoạn bà con thấy chán chường nhất, muốn bỏ cao su nhất thì hợp đồng và sổ đỏ đã như “sợi dây” vô hình “buộc” bà con vào… gốc cao su.
 
Uông Thượng
CHIA SẺ ĐẾN BẠN BÈ: