HOTLINE: 0904 89 4444

Bảo tồn văn hóa Chăm đứng trước nhiều thách thức
Văn hóa người Chăm được xem là một nền văn hóa bảo tồn tốt nhất, lưu giữ được nhiều nét độc đáo nhất trong cuộc sống đương đại. Song không có nghĩa di sản ấy không đứng trước những thách thức của việc bảo tồn.
22:28 21-11-2017

Hiện ở Việt Nam có khoảng gần 150 nghìn người Chăm, sinh sống rải rác ở các tỉnh phía Nam như Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Đồng Nai, Tây Ninh, TP.HCM... Nhưng ở Ninh Thuận có số người Chăm sinh sống đông nhất (trên 57 nghìn người, chiếm gần 50%). Có thể nói, người Chăm Ninh Thuận bảo lưu được nhiều tập tục truyền thống một cách đậm nét như nghi lễ, hội hè, tục cúng tế đền tháp, tục cưới gả, tang ma, tín ngưỡng, tôn giáo, luật tục, văn chương, làng nghề...

Niềm tự hào của người Chăm có lẽ là những ngôi tháp Chăm cổ kính xây dựng bằng đất nung độc đáo. Những hình ảnh được tạc vào đền tháp cũng biểu trưng cho một nền văn hóa đặc biệt phát triển về ca, múa. Hình ảnh vũ nữ Chăm-pa cổ xưa được chạm khắc vào các đền tháp, trong đó bức phù điêu vũ nữ Trà Kiệu là một tuyệt tác minh chứng cho tâm hồn văn nghệ đặc biệt của người Chăm. Các điệu múa Chăm làm mê đắm lòng người bởi sự phong phú và độc đáo. Cùng với múa, hai nhạc cụ nổi tiếng là trống Paranưng và kèn Saranai vẫn phô diễn vẻ đẹp trong đời sống hàng ngày của đồng bào Chăm và các dịp lễ hội như Rija, Ramadan, Katê…

Dù được coi là một dân tộc vẫn bảo lưu được nhiều tập tục truyền thống nhưng trước sự phát triển chung, văn hóa của người Chăm vẫn đang đứng trước nguy cơ mai một. Nếu như xưa kia, các đội thương thuyền của người Chăm “khét tiếng” giỏi giang ở vùng biển Đông Nam Á thì ngày nay, hầu như người Chăm không sống với biển nữa. Thậm chí, làng Bỉnh Nghĩa (Ninh Thuận) vẫn sống gần biển nhưng không làm nghề biển. Những đồ dùng làm từ gốm (nghề truyền thống nổi tiếng của người Chăm) cũng đang dần được thay thế bằng những vật dụng của thời hiện đại. Những tấm thổ cẩm với những họa tiết vô cùng tinh tế dệt tay cũng được thay bằng những tấm vải dệt công nghiệp.

Làm sao để cộng đồng dân tộc Chăm bảo tồn và phát huy được những di sản văn hóa độc đáo của mình là một vấn đề đặt ra với các nhà nghiên cứu, quản lý văn hóa.

Theo ông Nguyễn Chí Bền, trước hết phải nâng cao nhận thức của cộng đồng dân tộc Chăm. Phải để họ biết tự hào với chính di sản của họ. Từ chỗ tự hào sẽ biết cách giữ gìn. Làm sao để họ biết tự hào thì trách nhiệm thuộc về các nhà quản lý và các nhà nghiên cứu. Phải chỉ cho họ vì đôi khi họ không biết là mình đang giữ “cục vàng” trong tay. Di sản đối với họ nó thân thiết như cơm ăn, nước uống hàng ngày.

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, bảo tồn di sản phải từ cộng đồng, chính cộng đồng. Nhưng không phải cộng đồng nào cũng hiểu hết cả những giá trị di sản. Nhưng bản thân cộng đồng làm tất cả những thực hành văn hóa đó như là một hành động cần thiết cho đời sống hằng ngày. Nghệ nhân người ta cứ hát thôi, nhưng những cái hay, cái đẹp, cái lả lướt... thì nhà nghiên cứu phải chỉ ra được.

Cũng theo ông Bền, điều thứ hai là phải giải quyết được cơ chế chính sách. Hiện chúng ta chưa chú trọng để bảo tồn các nghệ nhân. Di sản quý giá nhất của người Chăm là di sản phi vật thể. Cần nhanh chóng đầu tư cho nghệ nhân, ghi chép kịp thời những bí quyết của họ. Trong đó, đặc biệt là kỹ thuật làm gốm. Gốm của người Chăm là loại gốm có một không hai trên thế giới. Thứ nhất không dùng bàn xoay, thứ hai là nung bằng củi, rơm ở ngoài trời, không đưa vào lò. Làm sao biến gốm, thổ cẩm thành sản phẩm hàng hóa, thành sản phẩm du lịch, cộng đồng sống được bằng nghề; làm sao xây dựng được tuyến du lịch đến với người Chăm để cộng đồng hưởng lợi từ chính những sản phẩm- di sản văn hóa của họ.
 
Hồng Hà
CHIA SẺ ĐẾN BẠN BÈ: