HOTLINE: 0904 89 4444

Sự mai một trí thức tuyền thống trong đời sống tinh thần của người Tây Nguyên
Trong quan hệ sinh tồn của con người với hệ sinh thái tự nhiên và thần linh, bao thế hệ người Tây Nguyên đã trải nghiệm, chia sẻ và tạo nên một hệ tri thức truyền thống phong phú, đa ngành. Nhưng hệ tri thức ấy nay chỉ còn có ý nghĩa “bảo tồn” và được “lưu trữ” chủ yếu qua sách vở, các công trình nghiên cứu . Điều đáng nói hiện nay, trong cuộc sống thường ngày, người Tây Nguyên đang cảm thấy xa lạ với tri thức do chính cộng đồng mình đã trải nghiệm và tích lũy
22:14 01-12-2017
 
Người Tây Nguyên có đời sống tinh thần phong phú, đa dạng

Từ hơn 100 năm qua, các thế hệ nhà nhân học trong và ngoài nước đã nỗ lực để hiểu và ghi chép hệ thống tri thức địa phương của các tộc người tại chỗ Tây Nguyên như Henri Maitre (1912), Jacques Dournes (1950), Nguyễn Kinh Chi & Nguyễn Đổng Chi (1937), Georges Condominas (1957, 1965, 1980), Boulbet Jean (1967), Ngô Đức Thịnh (1996, 1998, 2004), Đỗ Hồng Kỳ (1994), Phan Đăng Nhật (1999), Oscar Salemink (2003), Đặng Nghiêm Vạn (2007), Lưu Hùng (2014, Ngô Văn Lệ (2014),… Thực tế, đã có một hệ thống tri thức truyền thống sống động được biểu hiện trong đời sống hàng ngày của cư dân tại các plơi hay ẩn tàng trong hàng vạn câu chuyện thần thoại, thơ ca, luật tục, phong tục, nghi lễ,… được các nhà nghiên cứu sưu tầm và xuất bản.
 
Tri thức truyền thống là tập hợp kinh nghiệm tập thể, hình thành trong quá trình con người tương tác với hệ sinh thái tự nhiên.Nó là thế giới quan và cách hành xử được cộng đồng chọn lọc qua nhiều thế hệ. Nó là cơ sở để thực hành các hoạt động sống như trồng trọt, chăn nuôi, săn bắt, đánh cá, hái lượm, chăm sóc sức khỏe, bảo quản lương thực và chế biến thực phẩm, làm công cụ và trang phục, xây dựng nhà ở, bảo vệ nguồn nước, dự đoán thời tiết, thích ứng với thay đổi khí hậu và dịch bệnh, thực hành các nghi lễ, tín ngưỡng và tâm linh.
 
Có một thực tế là xã hội và văn hoá Tây Nguyên trong những giai đoạn lịch sử, có những thay đổi rất to lớn và càng ngày, tốc độ thay đổi đó diễn ra càng nhanh chóng.Có những biến đổi chúng ta có thể nhận thấy được trước mắt, có những biến đổi diễn ra âm thầm, ở bề mặt chìm của cơ tầng văn hoá – xã hội truyền thống nhưng cũng mạnh mẽ không kém. Con đê văn hoá tộc người tưởng chừng vững chắc nay trở nên mong manh, rất có nguy cơ tan vỡ.
 
Hệ thống tri thức truyền thống, đa dạng sinh học, và đa dạng văn hóa (ba hệ thống tương tác và phụ thuộc lẫn nhau) đang có nguy cơ bị biến mất.Trong thực tế, một số tri thức truyền thống bị mất mát một cách tự nhiên vì kỹ thuật và công cụ, đang bị biến đổi hay không còn được sử dụng. Sự mất mát gần đây và hiện nay đang được gia tốc vì các chương trình phát triển kinh tế – xã hội và an ninh quốc phòng như định canh – định cư; quy hoạch các dự án quản lý và bảo vệ rừng, tái định cư và xây dựng thủy điện; sự gia tăng dân số nhanh chóng; xây dựng nông – lâm trường, di dân có tổ chức từ các vùng khác để lập khu kinh tế mới;  sự tăng trưởng của thị trường, các hệ thống giáo dục, sự xuống cấp của môi trường và các tiến trình phát triển.Tri thức truyền thống không còn nguyên vẹn trên cả phương diện thực tế lẫn trong ý niệm
 
Dưới đây là một số các ví dụ được nêu lên để chứng minh cho các điều này:  Với sự gia tăng dân số nhanh chóng – thường là do quá trình di cư hay các chương trình bố trí tái định cư của chính phủ khiến đời sống của người dân bị ảnh hưởng. Với tình trạng nghèo nàn, các cơ hội có được lợi ích ngắn hạn thường được lựa chọn hơn là duy trì các phương thức địa phương lành mạnh về mặt môi trường.Với mức gia tăng tình trạng nghèo nàn, người nông dân cũng có ít thời gian và nguồn lực hơn để duy trì động thái tự nhiên của các hệ thống tri thức truyền thống qua sự thử nghiệm và canh tân của địa phương.
 
Sự du nhập các phương thức sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp theo hướng thị trường tập trung vào việc độc canh nông sản hàng hóa gắn liền với những sự mất mát tri thức truyền thống và các phương thức sản xuất truyền thống, qua những sự mất mát về đa dạng sinh học và đa dạng văn hóa. Ví dụ, chính sách thúc đẩy sử dụng các giống lúa nước và cây công nghiệp cải thiện thường đánh giá thấp các loài đã được thích ứng với điều kiện địa phương; các giống lúa, ngô mới, với những điều kiện mới về phân bón… đã gây ra những tác động đến hệ sinh thái và độ màu mỡ của đất.
 
Với sự hiện diện của nhiều loại thực phẩm thương mại, một số tài nguyên đa dạng sinh học có vẻ trở nên ít thích hợp, như hạt giống, các giống hoa màu, các loại cây gia vị đã được chọn lọc qua nhiều năm dựa trên các đặc điểm về khả năng dự trữ dài hạn của chúng.
 
Thời gian qua, chúng ta nhập một lượng đáng kể các giống lúa, bắp cao sản có vẻ giúp giảm bớt nhu cầu chọn giống và để thích ứng với các điều kiện sinh trưởng khó khăn. Nhưng đây cũng là nguyên nhân góp phần vào sự mất mát của các giống địa phương.
 
Với sự thu hẹp một cách đáng báo động diện tích rừng thì một số thực vật làm thuốc đang trở nên khó kiếm; các loại củ rừng, nấm rừng, những lâm thổ sản quý hiếm dần biến mất và tri thức về khai thác tài nguyên thiên nhiên cũng như nền văn hoá liên kết với các loài thực vật này cũng suy tàn theo.

Ngày càng có nhiều tri thức bị mất đi do kết quả của sự đổ vỡ của các kênh thông tin truyền thống vốn dựa vào sự truyền khẩu. Cả trẻ em cũng như người lớn đều không còn dành nhiều thời gian cho các hoạt động cộng đồng (ví dụ, thanh niên ra các thành phố để đi học, đi tìm kiếm việc làm, hay để bán nông phẩm; nhiều thanh niên không còn quan tâm, hay không còn cơ hội để học hỏi các phương pháp truyền thống). Càng ngày, thế hệ những người lớn tuổi càng cảm thấy khó khăn trong việc truyền đạt tri thức của họ cho thanh niên.
 
Vì tri thức truyền thống được truyền đạt chủ yếu bằng những lời nói vần, nó dễ bị tổn hại trước các thay đổi nhanh chóng – nhất là khi người dân bị di chuyển hay khi thanh niên thu nhận các giá trị và lối sống khác biệt với giá trị và lối sống của ông cha họ.
 
Đã có thời gian tri thức truyền thống bị xem nhẹ, đánh giá thấp, chỉ xem trọng khoa học kĩ thuật hiện đại, sự ứng dụng công nghệ bên ngoài vào cải tạo môi trường địa phương. Sự quên lãng có tính lịch sử này đã làm suy giảm các hệ thống tri thức địa phương, vì đã làm cho nó mất cơ hội sử dụng và áp dụng. Điều này khiến cho một số người dân và các cộng đồng địa phương đã mất niềm tin về vốn tri thức văn hoá của mình, xuất hiện tâm lí tự ti xem cái của mình là lạc hậu, còn bắt chước bên ngoài mới là phát triển, hiện đại. Họ chối bỏ truyền thống và trở thành phụ thuộc vào các giải pháp bên ngoài để giải quyết các vấn đề của cộng đồng, của địa phương.
 
Người Tây Nguyên nay sống trong nền kinh tế hàng hóa với mô hình định canh-định cư, trồng thâm canh cây công nghiệp (cà phê, chè, tiêu, điều) để bán ra thị trường. Họ tiếp nhận các tri thức hiện đại (được coi là khoa học) từ bên ngoài, thông qua các chương trình/dự án phát triển của Nhà nước, qua các quan hệ tộc người, qua tôn giáo (Tin Lành, Công giáo), các dự án phát triển của các tổ chức phi chính phủ quốc tế, qua các phương tiện truyền thông đại chúng,… Họ như chỉ tin vào những cái nhìn thấy được. Đánh mất lối tư duy truyền thống, mối tương giao giữa người với thế giới siêu nghiệm của thần linh và tự nhiên. Trong điều kiện ấy, hệ tri thức truyền thống cũng mất giá trị vốn có của nó. Mặt khác, người Tây Nguyên hiện đại cho rằng, họ phải học lấy sự khôn ngoan từ các tri thức bên ngoài (như của người Kinh) để cải tạo và khai thác tự nhiên. Và cùng với quá trình đó là sự mất dần của hệ tri thức truyền thống quý báu.
 
TS. Trung Thị Thu Thủy
Học viện Chính trị Khu vực III Đà Nẵng
CHIA SẺ ĐẾN BẠN BÈ: