HOTLINE: 0904 89 4444

Giá trị thẩm mỹ trang phục các giá hầu mẫu tứ phủ
(Phương Nam Plus) - Trang phục truyền thống trong đời sống xã hội luôn mang trong mình giá trị văn hóa, giá trị sử dụng, giá trị thẩm mỹ, giá trị nghệ thuật, giá trị nhân văn... Khi trang phục trở thành vật mang tính biểu tượng và được gắn thêm những giá trị khác như dấu hiệu thiêng về màu sắc, hoa văn... hoặc khi trang phục đã có những liên quan với lễ nghi thì nó trở thành lễ phục.
17:47 18-02-2018
Từ cơ sở mẫu hình trang phục truyền thống dù là ở trong cung đình, thuộc tầng lớp hoàng tộc, hay ngoài thôn dã của thường dân, những quy định ấy chỉ được thực thi trong đời sống. Đến khi những loại trang phục đó đi vào các giá hầu, thì nó đã vượt lên tính năng về sản phẩm thực dụng hay cảm xúc thị giác thông thường ở bên ngoài, mà nó đã mang tính triết lý, thỏa mãn về mặt tinh thần với giá trị về cái đẹp của yếu tố tâm linh. Nó vừa mang đặc thù riêng, đồng thời nó cũng trở thành cái chung của lễ hội tín ngưỡng dân gian. Nó vừa là lễ phục vừa là trang phục “trình diễn” trong những quy chuẩn của thực hành nghi lễ hầu đồng.
 
 
Các nhà nghiên cứu đã cho rằng: “Lên đồng là một hình thức sân khấu tâm linh dân gian”, có đầy đủ các yếu tố cấu thành như: nội dung, tích truyện, không gian, âm nhạc, lời ca, điệu múa, khán giả, người trình diễn… Trong đó có nghệ thuật tạo hình trang phục. Ở khăn chầu áo ngự thì nghệ thuật tạo hình này vừa có ý nghĩa “thực” về “hình tượng nhân vật”, vừa mang tính “thiêng” của các giá hầu trong tín ngưỡng Mẫu tứ phủ.
 
Trên những vật dụng cùng tên gọi của trang phục trong đời sống xã hội, nhưng được mỹ lệ hóa mang giá trị thẩm mỹ riêng như: khăn, mũ, áo, đồ trang sức… là phương tiện tái tạo những đặc trưng bên ngoài một cách cụ thể. Những đặc trưng có thể nhìn bằng một hình tượng cụ thể do trang phục tạo dựng hình ảnh hóa thân của từng vị thánh giáng. Nó là biểu tượng bên ngoài của hoạt động tinh thần, là hình thức hữu hình của con người nội tâm. Qua trang phục khiến cho các ông đồng, bà đồng được thiêng liêng hóa, đồng thời cũng là hình tượng “nhân vật” tạo cho sự “diễn xuất” của họ phiêu thăng.
 
Khi đền phủ tổ chức vấn hầu, người tham dự ngồi xung quanh nơi không gian hành lễ, lặng lẽ và thành kính dõi theo, thụ hưởng thông qua việc tịnh hóa tâm linh đang trình hiện. Đây là việc “lột bỏ” con người cũ ra và “mặc” con người mới vào. Được chứng kiến những thao tác “tạo hình” trang phục qua đôi tay khéo léo “lên khăn áo” của hầu dâng[1] (nếu là bốn người, họ được gọi là người ngồi tứ trụ, hai người thì gọi là “Chầu Quỳnh, Chầu Quế”[2] hay tay khăn, tay áo) một thành phần không thể thiếu trong các buổi hầu lễ của mọi vấn đồng.
 
Những người hầu dâng như một “nghệ sĩ tạo hình” tinh khéo, làm chủ được chất liệu, am hiểu về thẩm mỹ, kết cấu trang phục dân tộc, lên khăn áo đúng “lề lối”. Tạo kiểu dáng đầu tóc: bện, tết, vấn, chít, đội khăn, cài trâm thoa…

Cách mang vận trang phục: Buộc thắt, cài, điểm xuyết phụ trang, nhấn nét trang sức… của từng chi tiết các bộ phận khăn áo; đã tôn lên dáng vẻ thân hình, tạo thành một tổng thể cấu trúc trang phục chung trên người ông đồng, bà đồng vào giá hầu. Mỗi giá đồng, được thay đổi trang phục phù hợp với từng vị thánh hiển linh.
 
Từ bộ phượng bào uy nghi, lộng lẫy của Tiên Thiên Thánh Mẫu nhập (giáng), đến bộ võ phục oai phong của Quan Đệ Nhất, cho tới khăn chầu áo ngự của các hàng thánh Cô: tấm yếm màu hồng đào với áo dài tứ thân, áo dài năm thân, áo hai tà, mạng chéo vắt vai, tràng mạng chân chỉ hạt bột, tua cườm quàng cổ, dải dây lưng thắt đáy lưng ong. Khăn vấn buông tóc đuôi gà, khăn vành dây buộc  nét trang trí rực rỡ; dải lụa rủ sau lưng mềm mại, trâm cài, lược giắt, hoãn tai, kiềng vòng, xà tích, đáy ngọc, đai lưng trấn chầu, nón ba tầm khoác vai… duyên dáng đoan trang lộng lẫy.
 
 
– Hàng thánh Cậu: Áo dài khuy đóng, áo long chấn, song khai, mạng chéo, đai ngọc, thẻ bài, ngọc bội. Đầu quấn khăn bỏ giọt hay đội khăn xếp, trên búi tóc giắt lược ngà, cài trâm, vai đeo bầu rượu, túi thơ, đai lưng dải lụa gọn gàng… hùng dũng, đĩnh đạc trang nghiêm, hào hoa phong nhã.
 
– Cô Bé: Áo cõn, ngắn vạt, tay rộng, áo tứ thân viền nẹp, áo năm thân vạt cải hoa văn, áo lá hai mảnh quàng vắt qua vai, giắt mép bên mình, đai lưng gọn ghẽ. Yếm gắn cúc bạc, yếm thêu hoa, thêu phượng, khăn vắt củ ấu, khăn nón buồm, khăn mỏ quạ, khăn piêu… gùi mây trên lưng, vai đeo nón giang, túi dao, túi dết, xà tích bên mình, bao tay lục lạc, chân quấn xà cạp, quầy dài, quầy ngắn, váy thổ cẩm nếp xòe tinh tế, tay che ô nhịp điệu vui tươi…
 
– Cậu Bé: Áo ngắn tứ thân, áo vạt hò chéo vạt, áo năm thân, áo không tay (gi lê) viền tà, áo nậu cổ lá sen nẹp viền kim tuyến, khăn buộc múi bỏ moi bên tai, tết xoắn hoa trên đầu… Với các loại trang sức: khánh bạc, vòng cổ, lục lạc, vòng tay… khỏe khoắn, tinh anh, tuấn tú.
 
Đến với các các giá hầu, ta được chiêm nghiệm về “cách” mặc, về “lối” mặc của con người trong mối quan hệ với nhau và xã hội, cũng như sự khác biệt trong ứng xử của con người qua trang phục.
 
Cảm thụ cái đẹp qua kênh thị giác, nhưng nó được cách điệu hóa thành những quy chuẩn nhất định cùng với trình thức biểu đạt của các thanh đồng. Nó phản ánh một nội dung cụ thể về cái đẹp tổng hòa, chỉn chu, đoan trang từ nếp khăn, tà áo… cùng dáng vẻ con người. Chất thiêng và chất thực cứ quyện chặt lấy nhau, khuấy động đến chỗ sâu thẳm của tâm thức người dự hầu (khán giả, con nhang đệ tử).

Qua đó còn được cảm nhận chân thực cái thể chất của nghệ thuật tạo hình trang phục, trong văn hóa mặc truyền thống đậm bản sắc từ xa xưa, đã hiện diện ngay trong đời sống công nghiệp hiện đại của thế giới “phẳng” đầy xáo trộn hôm nay, thì vẫn còn đó những nơi chốn để cho tâm hồn lắng đọng, nhắc nhở chúng ta về mạch nguồn của văn hóa dân tộc.
 
Để góp phần tạo nên giá trị thẩm mỹ, sức hấp dẫn độc đáo của trang phục thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu tứ phủ trong các giá hầu đồng thì phải nói tới yếu tố nghệ thuật làm đẹp trên trang phục. Do các nghệ nhân làng nghề may thêu vẽ thiết kế kiểu mẫu trang phục truyền thống, đồng thời nắm vững am tường kỹ thuật, vốn hiểu biết về lịch sử, thần tích của các vị thánh, về màu sắc trong tín ngưỡng Mẫu tứ phủ.
 
Có thể nói, đó là “nghệ thuật mỹ lệ” bởi sự đột biến về hình thức trang trí, tính cộng hưởng không thể tách rời của chất liệu, màu sắc, yếu tố mỹ thuật tạo hình, mảng, khối đường nét và sự ăn nhập với các biểu tượng hoa văn… đã tạo nên “linh hồn” cho từng loại khăn chầu áo ngự.
 
Để tăng tính thẩm mỹ cho y phục, tạo hiệu ứng trên bề mặt vải, lụa được thể hiện bằng nhiều cách thức: thêu chỉ màu ngũ sắc, thêu sa hạt, đính đá, mặt mài, khâu gương, độn nổi, bọc nét kim loại bằng sợi vàng, bạc, chỉ kim tuyến… Với kỹ thuật thủ công truyền thống (thêu tay) của sản phẩm tế tự thờ cúng như: nghi môn, lọng, liễn, câu đối… nơi đình, chùa ngoài dân gian, kết hợp với nghệ thuật thêu nội phủ, lễ phục hoàng gia, triều phục ở cung đình, đã mang lại vẻ đẹp đặc trưng cho khăn chầu áo ngự.
 
 
Ngoài kiểu dáng, màu sắc của tứ phủ phải kể đến họa tiết hoa văn. Nó là tác nhân để người thợ thêu thể hiện sự tinh khéo của đôi bàn tay và gửi gắm sự sáng tạo của mình làm bật lên tính nghệ thuật trang trí. Thông qua hoa văn trên trang phục, với tư duy mỹ cảm, vừa mang tính quy ước bằng trực giác, vừa mang tính cách điệu cao cùng với dạng thức trang phục, đã trở thành những quy chuẩn nhất định, mà ở đó ẩn chứa một lượng thông tin đáng kể, phân biệt về sự vật, thiên nhiên, ngôi thứ trong xã hội… với các đề tài:
 
– Động vật: Rồng, phượng, hạc, dơi, chim công, chim yến… được thể hiện dưới nhiều dạng thức như: tứ linh, lưỡng long chầu nguyệt, chầu mặt trời, lưỡng long rồng phượng, long ẩn vân, phượng trong mây, phượng ngậm cuốn thư, phượng hóa long, song hạc, ngũ phúc, hổ phù, loan phượng…
 
– Thực vật, tứ thời tứ tiết (cỏ cây, hoa lá): Tùng, cúc, trúc, mai, hoa hồng, mẫu đơn, sen, lan…
 
– Thiên nhiên, vũ trụ: Mây cuộn, mây tản, thủy ba, sóng nước.
 
– Hình họa: Chữ thọ, chữ triện, vảy cá, vảy rồng…

Những hình dạng, cấu tạo của từng loại hoa văn đều mang ý nghĩa biểu trưng nhất định. Nên các đồ án trang trí, bố cục to, nhỏ, màu sắc, vật liệu thể hiện trên trang phục cũng có những quy ước để nhìn vào đó, có thể nhận biết vị thế, chủ nhân hưởng dụng như: trên nền chất liệu lụa gấm quý hiếm, dệt trơn hoặc cải hoa văn của áo Chầu Bà Đệ Nhất, hay áo Quan Lớn Đệ Nhất thì thường là đồ án tứ linh (long, ly, quy, phượng), họa tiết phong phú, gia công nhiều kỹ thuật tinh xảo, phụ liệu đắt giá, sắc màu lộng lẫy. Áo của các ông hoàng thì mẫu hình trang trí nhỏ, đơn giản, đồ án thưa hơn. Cũng như vậy ở các hàng chầu bà, tùy vào ngôi thánh mà thêu đính nhiều, ít, đồ án trang trí là đề tài tứ thời, tứ tiết… điểm xuyết nhẹ nhàng, tươi tắn… Bên cạnh đó còn các dạng thức kỷ hà, hình học của hoa văn thổ cẩm vùng miền dân tộc thiểu số, nơi mà các chầu bà, thánh cô, thánh cậu xuất tích… được sử dụng, tương ứng với thần danh thánh tích của từng vị trong các giá hầu.
 
Hoa văn trên trang phục hành lễ trong tín ngưỡng Mẫu tứ phủ đã phản chiếu một phần cảnh sắc, môi trường thiên nhiên trời, đất… thể hiện quan niệm tín ngưỡng, ý thức về sự sống, đẹp cả về tâm hồn và thể chất. Cùng sự ẩn hiện lóng lánh của đồ trang sức trong ánh sáng huyền ảo, lung linh hương khói quyện bay của thế giới sắc tướng – âm thanh – nhịp điệu.
 
Đặc biệt, theo quan niệm trong triết lý thờ Mẫu tứ phủ của tín ngưỡng dân gian, thì màu sắc càng tươi đẹp, càng rực rỡ thì nó càng tạo ra nhiều năng lượng xua đuổi những ám ảnh buồn rầu… làm cho thanh đồng cảm thấy như đang ở nơi bồng lai tiên cảnh, như được phiêu linh, thoát tục, giúp người đồng thêm thăng hoa, người đến dự thêm hưng phấn. Do đó, hình thức làm đẹp ở đây không phải là cái gì dư thừa, mà nhằm tô điểm cho oai nghi tế hạnh, tôn vẻ đẹp của bóng thánh.
 
 
Nghệ thuật làm đẹp trên trang phục đã tạo nên sắc diện độc đáo của khăn chầu áo ngự, vừa có sự phối kết hợp hài hòa của chất liệu vải, lụa làm nền cho chỉ ngũ sắc khoe màu rực rỡ, vừa có độ sáng chói lung linh, lấp lánh của ngọc trai, đá quý, kim loại, vàng, bạc… Sắc phục này tương tác với không gian “diễn xướng” của các giá hầu đã làm tăng thêm tính linh diệu và như còn được cảm nhận về một thông điệp của vũ trụ, vì tinh tú, sự chuyển biến tuần hoàn của không gian, thời gian… chuyển tải một thụ cảm tư duy về ý nghĩa tượng trưng, sự giao hòa “âm dương”, thế giới quan: bầu trời, mặt đất… Và nơi đây, những người tham dự (con nhang đệ tử) có thể trải nghiệm được một phần của thế giới tâm linh, để hướng về giá trị chân – thiện – mỹ ở đời sống thực tại mong được viên mãn hơn.

[1]  Người hầu dâng: Là những người đảm nhận việc lên khăn áo, hoa cài, lược giắt, điểm trang… sửa nếp khăn, tà áo, dâng hương che quạt, châm mồi hầu, rót rượu, đưa cờ, kiếm, hèo, đao, mái chèo cho các thánh… Họ cũng là người có căn đồng, đã trải nghiệm trong các giá hầu (có thể là nam, hay nữ), trang phục nghiêm chỉnh có thể là khăn đóng áo dài, hoặc áo cánh đồng phục một màu.
 
[2] Tương truyền hai vị công chúa Quế Hoa, Quỳnh Hoa là tả hữu giúp việc cho thánh Mẫu, nên các hầu dâng tả hữu được mạo nhận là “Chầu Quỳnh, Chầu Quế”.

PGS, TS. Đoàn Thị Tình
CHIA SẺ ĐẾN BẠN BÈ: