HOTLINE: 0904 89 4444

Mở trang sử làng, ước gì như ngày xưa
(Phương Nam Plus) - Những làng có từ đầu thế kỉ 20, mỗi làng, không kể lớn, dân số đông bằng hơn nửa số dân của một xã nhỏ hiện thời. Không kể làng nhỏ, chưa đến một ngàn nhân khẩu, khoảng hơn một trăm hộ.
15:05 28-02-2018
Những làng ấy đều có phả của làng. 

Phả được lưu giữ ở đình, thờ người có công phù hộ nước, che chở cho dân. Các đạo sắc Vua ban, được lưu trong hộp gỗ quí sơn son thếp vàng. Phả còn quy định nghi thức thờ cúng, sản vật dùng trong tế lễ, kiêng chữ húy, quy định số ngày hát ca, trò chơi sau cúng tế. Còn được đưa vào hương ước, lâu dần thành tục lệ. 
 

Ngày trước không gọi làng mở hội, hay gọi làng vào đám. Đây là thời gian thiêng, không gian thiêng của làng, của mỗi gia đình.

Người ở xa quê, từ mấy tháng trước đã hẹn gặp nhau ở hội làng. Người ở quê thì rậm rịch cho cuộc vào đám cả tháng trời. Chuẩn bị lễ vật dâng cúng đức thánh, phân công nhiệm vụ cho đội tế, đội khiêng kiệu, đội văn nghệ, nhóm điều hành trò chơi dân gian. Chuẩn bị nghi thức tế lễ ngày khai hội, ngày chính hội, ngày dã đám. Làng nào tổ chức quy củ thường chào mời khi có gia đình, khách thập phương dâng lễ. Ai, khách nào đến là giới thiệu tức thì. Có người dẫn với mặc trang phục của ngày hội, cầm cờ biển, nổi chiêng trống dẫn đường.
 



Trong thời gian thiêng của làng, trong lúc chuẩn bị công việc, họ thường kể chuyện về công trạng của đức thánh làng mình. Kể về đi xem hội ở làng bên có gì đặc sắc. Truyền cho nhau kinh nghiệm làm ra sản vật ngon, về nghi thức cúng tế, bình về gánh Chèo hát trong đêm hội. 

Họ nói về lịch sử mà cứ hồn nhiên, như kể cho nhau nghe câu chuyện cổ tích.

Sử làng còn là câu chuyện về kinh nghiệm sản xuất, đời sống tinh thần, đời sống tín ngưỡng. Từ đó mà giáo dục tình yêu quê hương đất nước, lòng nhân ái, nuôi dưỡng, gìn giữ tình làng nghĩa xóm. 

Không như bài giảng lịch sử của thầy giáo ở lớp học với nguyên nhân, kết quả và rất nhiều số liệu, ý nghĩa lịch sử lại hơi dài. Cũng chẳng như sách sử đương thời. 
 

Cứ thế, mỗi năm làng vào đám, lại là lúc người làng ôn lại sử làng qua kể chuyện tích xưa, việc nay, bằng hình thức cúng tế, bằng sản vật thành kính dâng cúng. Chuyện có thực, có sáng tạo, đẫm chất của huyền sử. Như mưa dầm thấm vào lòng đất. Sử làng kể hồn nhiên mà ai cũng nhớ về làng mình đã trăm năm, ngàn năm. 

Nghe năm nay, vẫn chờ, vẫn đợi, hẹn ở năm sau.

Viết sử làng bây giờ hay khai thác về nghề cổ truyền, tập quán canh tác, kinh nghiệm trồng nuôi cây con gì. Truyền thống đánh giặc giữ làng, giữ nước. Hoạt động văn nghệ, các tổ chức xã hội. Lãnh đạo của chính quyền qua các thời kì. 
 



Chủ yếu nêu thành tích, phong trào.

Viết về đức Thành hoàng làng, tín ngưỡng thờ cúng chỉ là phần nhỏ. Nghi thức tế lễ, tuyên đọc mĩ tự Vua ban trong sắc phong, đôi khi chỉ làm cho có. 

Văn tế thờ ngài còn ít người đọc đúng giọng, để như hiện hữu sự uy linh, thành kính. Thay vào đó là bài diễn văn không hợp lắm ở nơi lấy cúng tế, hoạt động vui chơi tự làm tự hưởng. Ngài có công trạng gì cũng chỉ vắn tắt đôi câu.

Hội làng bây giờ phải nghe quá nhiều về ai công đức bao nhiêu tiền, bao nhiêu hiện vật. Lại chả hợp khung cảnh khi đang thành kính cầu khấn nhưng loa to, âm thanh lớn, cứ như thúc vào tai. Không phải một lúc, một ngày, mà gần như cả kì lễ hội.

Kể về sử làng, gọi văn vẻ là mở trang sử làng, ước gì như ngày xưa nhỉ.
 
Đặng Văn Lộc
CHIA SẺ ĐẾN BẠN BÈ: