HOTLINE: 0904 89 4444

Đồng thầy Trần Thị Hằng
(Phương Nam Plus) - Duyên nối duyên, đồng Thầy Trần Thị Hằng là hậu duệ đời thứ 12 tiếp nối truyền thống danh gia vọng tộc dòng tộc Nguyễn Phúc.
14:28 11-06-2018
16 tuổi cô gặp “đại nạn không chết”, nhiều người cho rằng đó là sự may mắn của cô, nhưng theo tâm linh mách bảo cô và người thân luôn tâm niệm rằng “đại nạn không chết ắt có hậu phúc”. Quả đúng như vậy, năm đó cô bị ngã sông đuối nước, 3 ngày sau mới tỉnh lại được. Và sau lần đó, tâm linh cô Hằng luôn hướng về các vị Thánh Thần luôn hiển hiện để cứu giúp con cháu Người đang gặp hoạn nạn, tai ách trong cuộc sống. 
 

Xuất thân trong một gia đình có truyền thống 5 đời theo nghiệp phụng sự Thánh, cô Hằng là con gái của pháp sư Trần Đức Luận nên ít nhiều cũng ảnh hưởng theo tín ngưỡng tâm linh của bố. Ngay từ khi còn nhỏ, cô đã biết đến những đàn lễ của bố, những lời ca tiếng hát trong những giá hầu Mẫu, hầu Thánh. Nhưng chỉ đến khi cô xuất giá lấy chồng về gia đình chồng vốn là dòng tộc lừng danh khắp trời Nam cô mới được tiếp duyên để phụng sự nghiệp thờ Phật, thờ Thánh. Nhà chồng cô là dòng tộc danh gia vọng tộc Nguyễn Phúc ở Đại Phúc, TP. Bắc Ninh, có ngôi đền cổ thờ Đức Phật Nguyễn Phúc Xuyên, vị danh y đã từng chữa trị bệnh cho chúa Trịnh. Ngài được ban tặng 18 đạo sắc phong, trong đó sắc phong “Đại Thiền sư Bồ Tát” vẫn còn được lưu giữ tại đền. Đền được dựng vào thời Hậu Lê (1646), được tu bổ vào năm 1768, thời Nguyễn trùng tu nhiều lần, lần cuối cùng vào năm 1941. Hiện ngôi đền cổ còn bảo lưu được nhiều cổ vật đặc biệt như tượng đá, sập thờ, khánh đồng, chuông đồng, gia phả, sắc phong.

Chùa “Linh Sơn tự” còn gọi là chùa Cao được khởi dựng vào thời Lê sơ, trùng tu vào thời Hậu Lê (1649 - 1652), thời Nguyễn lại được trùng tu vào các năm 1845, 1938, 1944; gồm nhiều công trình như: gác chuông, tam bảo, nhà tổ, nhà mẫu, nhà khách, tháp mộ và còn bảo lưu được tượng Phật, tượng hậu Phật (trong đó có tượng sư tổ Nguyễn Phúc Xuyên được phong là Đại Thiền sư Bồ Tát được thờ tại đây, chuông đồng, bia đá hàng trăm bộ ván in kinh, sách thuốc thời Lê - Nguyễn). Cụ tổ Nguyễn Phúc Xuyên là người am hiểu đạo Nho, đạo giáo, tinh thông y thuật, phong thủy chữa bệnh cứu người. Cụ cùng với Sư Giác Hải Từ Đạo Hạnh trụ trì chùa Tây Phương và thiền sư Nguyễn Minh Không kết nghĩa huynh đệ, cùng đến Ấn Độ lấy Kinh. Trong cuốn Đại Việt Sử kí toàn thư viết: “Tục truyền, khi nhà sư Từ Đạo Hạnh sắp trút xác, trong khi ốm đem thuốc niệm thần chú rồi trao cho học trò là Nguyễn Chí Thành tức Minh Không, dặn rằng 20 năm sau nếu thấy Quốc vương bị bệnh lạ thì đến chữa ngay, có lẽ là việc này”. Như vậy theo đó, thiền sư Nguyễn Minh Không tên thật là Nguyễn Chí Thành, vốn là học trò của Thiền sư Từ Đạo Hạnh. Ngài được triều đình trọng vọng, dựng nhà cho ở. Về sau, với y thuật siêu việt, ngài chữa khỏi bệnh cho vua Lý Thần Tông, được nhà vua ban phong làm Quốc sư. Ngôi đền cổ Nguyễn Phúc Xuyên đã được nhận bằng di tích quốc gia do cô Trần Thị Hằng là hậu duệ đời thứ 12 làm đồng trưởng, đền còn có tên là “Bồ Tát Linh Từ”. Cấu trúc đền gần cổng Tam Quan, nhà bái đường, hậu cung. Cổng Tam quan theo lối chồng diêm, nhà bái đường 3 gian làm theo lối tiền kẻ hậu bảy, dựng vào năm Tự Đức thứ 35 (1883), nhà tiền đường làm theo kiểu tiền kỷ hậu bảy, giá chiêng chống cốn 6 hàng cột. Nhà tiền đường có kiến trúc nhà Lê nhưng được trùng tu nhiều vào thời Nguyễn. Hai gian hậu cung là nơi thờ, đặt tượng thờ đức Đại thiền sư Bồ Tát Nguyễn Phúc Xuyên - tượng bằng gỗ ở trong tư thế ngồi thiền định. Pháp sư Nguyễn Nhật Huy là thủ nhang trông coi ngôi đền thiêng trong vùng được nhận Bằng lưu niệm di tích Quốc gia. Cô Hằng là hậu duệ đời thứ 12 của cụ tổ Nguyễn Phúc Xuyên, cô được mời làm đồng trưởng của 2 ngôi đền cổ linh thiêng của dòng tộc, kế thừa truyền thống cha truyền con nối, đời đời gìn giữ bảo lưu những di sản quý của dòng họ và của đất nước. Vốn là người có căn duyên với cửa Cha cửa Mẹ nay lại được phụng nghiệp cha ông tiếp nối truyền thống của dòng tộc, cô Hằng luôn nhất tâm thành kính tu thiết tại đền, một lòng hướng Phật.
 

Duyên làm con Thánh: 16 tuổi gặp đại nạn không chết
 
Cô nhớ lại năm 16 tuổi cô bị ngã đuối nước, cả gia đình đã nghĩ chắc cô không thể qua khỏi ai cũng khóc thương cô, nhưng sau 3 ngày hôn mê cô tỉnh lại như một điều kì diệu mà không ai có thể lý giải được. Cổ nhân vẫn thường nói: “Gặp đại nạn không chết tất có phúc báo”. Câu cổ ngữ ẩn chứa nội hàm “Nhân quả báo ứng” ở bên trong, đây chính là bí mật của nó, nắm giữ được quy luật này, chúng ta sẽ có thể đoán được cuộc đời sau này của một người, chúng ta sau này có gặp phải đại nạn hay không? Có gặp đại nạn mà qua khỏi hay không? Có thể có hậu phúc hay không? Những điều này chúng ta chỉ cần nhìn xem cách ứng xử và hành động của một người như thế nào là sẽ biết ngay. Tâm linh mách bảo cô thành tâm tin theo người bác trong dòng tộc hướng dẫn việc tâm linh từ năm cô 18 tuổi. Kể từ sau đại nạn năm đó, cô Hằng luôn nhất tâm tín lễ, một lòng phụng sự Thánh. Đến năm 1996, sau quãng thời gian nhà Ngài thử thách, cô được bề trên chính thức cho ăn lộc Thánh, khi đó cô tròn 30 tuổi.
 
Căn duyên phụng sự Thánh làm con Cha con Mẹ, lại có duyên được phụng thờ chăm nom ngôi đền thờ “Đại Thiền sư Bồ Tát” cô Hằng luôn nhất một lòng tòng một đạo để làm gương cho con cháu sau này. Cô luôn răn dạy con cháu mình tu dưỡng đạo đức, tu tâm để trở thành một người vừa có Tài vừa có Tâm - Đức. Tại sao mỗi chúng ta phải tu dưỡng đạo đức sống tốt đời - đẹp đạo. Điều đó thể hiện ở mỗi việc làm hàng ngày của cô thông qua các hoạt động từ thiện, cứu giúp người có hoàn cảnh khó khăn. Cô tích cực tham gia hành trình trao những suất quà tình thương cho đồng bào dân tộc vùng cao Cao Bằng. Một người có tấm lòng nhiệt tình, nhiệt huyết đầy nhân ái như cô hễ thấy một cảnh đời kém may mắn cô đều muốn dang tay giúp đỡ. Sống tốt đời không phải chỉ là đòi hỏi về văn hóa, đạo đức xã hội mà còn là bởi đức tin vào những điều tốt đẹp nhằm hướng tới những giá trị Chân - Thiện - Mỹ, cũng như những giá trị siêu việt của mỗi một tôn giáo, một tín ngưỡng.
 



Cái nhìn khách quan về đạo Mẫu
 
Hơn 20 năm ăn lộc Thánh, cô Hằng đã có đủ những trải nghiệm trong tuổi đời và trong lĩnh vực làm việc tâm linh. Cô cho rằng Việt Nam là một đất nước đa dân tộc và tồn tại nhiều loại hình tôn giáo, tín ngưỡng. Chính vì vậy, để nhận diện phân biệt những hình thức tín ngưỡng bản địa với nhiều dấu vết nguyên thủy của cư dân nông nghiệp đạo Mẫu và tín ngưỡng thờ Mẫu là điều không dễ dàng. Đạo Mẫu là tín ngưỡng bản địa có nguồn gốc từ thời kì nguyên thủy, lấy Mẫu (Mẹ) là đấng sáng tạo và bảo trì cho vũ trụ và con người, là nơi con người ký thác những mong muốn, khát vọng về đời sống sung túc, mạnh khỏe, may mắn và tài lộc của mình. Đây không phải là hình thức tín ngưỡng tôn giáo đồng nhất. Nó là một hệ thống các tín ngưỡng với ít nhất ba lớp khác nhau nhưng có mối quan hệ hữu cơ và chi phối lẫn nhau. Đó là lớp tín ngưỡng thờ Nữ thần, lớp tín ngưỡng thờ Mẫu thần và lớp tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ.
 
Lớp thờ Nữ thần mang tính phổ quát, rộng rãi, phù hợp với xã hội nông nghiệp, nơi đặc biệt chú trọng tới vai trò của người phụ nữ. Lớp thờ Mẫu thần phát triển trên nền tảng của lớp thờ Nữ thần, thường có gắn với yếu tố quốc gia, thờ các Vương Mẫu, Quốc Mẫu, Thánh Mẫu như Nguyên phi Ỷ Lan, Mẫu Tây Thiên, Mẹ Gióng hay Linh Sơn Thánh Mẫu…Lớp thờ Nữ thần và Mẫu thần mang tính chất bản địa, nội sinh thuần túy. Lớp thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ lại được hình thành trên cơ sở hai lớp thờ trên kết hợp với sự tiếp thu những ảnh hưởng của Đạo giáo Trung Hoa. Tuy nhiên, trải qua thời gian, lớp tín ngưỡng này đã quay trở lại với những đặc điểm điển hình của một tín ngưỡng đậm nét bản địa hơn.
 
Tín ngưỡng thờ Mẫu được hiểu theo nghĩa hẹp hơn chính là hình thức tín ngưỡng với tên gọi Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ - Tứ phủ, một hình thức thờ cúng những vị Thánh Mẫu cai quản vũ trụ. Phần lớn đều cho rằng, tín ngưỡng thờ Mẫu là một tín ngưỡng dân gian với một số đặc điểm: Thờ Mẫu được hình thành trong chế độ Mẫu hệ, khi con người thờ các Nữ thần; Thờ Mẫu thiếu những tiêu chí cơ bản để cấu thành một tôn giáo chính thống như sáng thể luận, giáo luật, giáo lý, giáo hội và hệ thống tổ chức; Trong thờ Mẫu, yếu tố niềm tin còn dựa vào sự cảm nhận của chủ thể, nghĩa là mỗi người lại có một niềm tin khác nhau, chưa mang tính hệ thống.
 
Cho tới ngày nay không ai biết chính xác tín ngưỡng thờ Mẫu trong văn hóa tâm linh của người Việt hình thành từ khi nào. Một số người cho rằng tục thờ Mẫu có từ khi mà người Việt còn thờ các thần linh thiên nhiên như Trời, Đất, sông, nước và núi rừng. Tín ngưỡng thờ Mẫu là sự tôn vinh các thần với quyền lực siêu nhiên, điều khiển thiên nhiên, là những yếu tố mang tính quy luật. Trong quá trình sinh tồn, con người phải dựa vào thiên nhiên vì thế họ tôn thờ các hiện tượng tự nhiên quanh mình như một đấng tối cao với hình tượng là Mẫu - người mẹ. Họ thờ Mẫu với mong muốn được che chở, bảo vệ và ban phước lành trong cuộc sống.
 
Xuân Huy
CHIA SẺ ĐẾN BẠN BÈ: