HOTLINE: 0904 89 4444

Đình Nghĩa Lập - Di tích nghệ thuật kiến trúc giá trị
(Phương Nam Plus) - Đình Nghĩa Lập, nơi thờ đức Thành hoàng Sủng Đức và phu nhân là một công trình kiến trúc khá qui mô, bề thế. Đình được xây vào thời Lê (đầu thế kỷ XVII), được trùng tu lớn vào thời Nguyễn.
10:18 15-07-2019
Từ Thủ đô Hà Nội, theo đường Quốc lộ 1A, về phía Bắc 10km, rẽ trái chừng 2km ta sẽ tới địa phận làng Nghĩa Lập, thuộc xã Phù Khê, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Ngôi đình Nghĩa Lập thờ Thành hoàng làng nằm ở cuối làng. Thần tích xã Nghĩa Lập truyền lại đến ngày nay cho ta biết rõ về lai lịch vị Thành hoàng được thờ.
 

Kể rằng, vào triều Hùng Vương thứ 6, tại đất Phong Châu (nay thuộc Phú Thọ), có một người họ Cao tên là Ái Nghĩa, lấy người cùng châu tên là Mỹ Đức, gia thế vốn dòng hào kiệt. Hai vợ chồng tính tình thật thà, sống nhân hậu, và hay giúp đỡ người khác. Phàm những việc như cứu giúp người hay việc làm phúc, không việc gì là không hết sức cố gắng để thực hiện. Hiềm một nỗi, tuy tuổi đã cao mà hai ông bà vẫn chưa có một mụn con để vui cửa vui nhà và làm chỗ dựa lúc tuổi già. Ông bà thường xuyên thăm viếng các đền miếu cầu tự. Một hôm, nghe nói bên sông Bạch Hạc có một ngôi đền thiêng, ông bà lập tức biện lễ, khăn gói về hành lễ. Lễ xong trở về nhà, như thường lệ, ông bà cùng ngủ trong phòng. Có lẽ vì mệt, hai người ngủ thiếp đi. Trong giấc mơ, bà Mỹ Đức mộng thấy một ông lão râu, lông mi bạc phơ, đầu đội mũ bách tinh, tay cầm cành đào kết thành hai quả đào, đứng trước cửa, tuyên triệu Mỹ Đức rằng: “Ta phụng Hoàng Thiên sắc mệnh cho hai quả đào tiên, nhà ngươi nên ăn, sau này tất sinh quí tử làm rạng danh gia đình, làng xóm, nổi tiếng khắp thiên hạ”. Bà Mỹ Đức hoan hỷ nhận lấy đào tiên ăn trong mộng, rồi tỉnh giấc. Bà kể cho chồng nghe về giấc mông. Ông vô cùng ngạc nhiên, cũng kể lại  cho bà nghe giấc mộng của mình: ông cũng mộng thấy có người cho ông một bài thơ, có 4 câu thơ:
 
Anh tài Thiên định giáng vu Trần
Đầu thai Cao thị tá lương quân
Vạn cổ lưu phương danh bất hủ
Tích di Nghĩa Lập tổng thiên xuân.
 
Biết có điềm lành, trong niềm hy vọng, ông bà uyên ương đồng phối, loan phượng thành bầy, vui vẻ. Từ hôm đó, bà Mỹ Đức có thai. Không như người khác mang thai chín tháng mười ngày, phải sau 12 tháng Bà Đức mới lâm bồn. Đúng giờ Sửu ngày 15 tháng Giêng năm Tân Hợi, bà sinh hạ một bọc, nở ra một bé trai và một bé gái. Bé trai diện mạo khôi ngô, dĩnh ngộ. Bé gái xinh xắn, bụ bẫm. Ông bà đặt tên con trai là Sủng Đức, con gái là Mỹ Phúc.
 
Lớn lên, vốn có thiên tư cao quí, học lực tinh thông, mới học được vài ba năm, Sủng Đức đac quán triệt văn chương, võ nghệ siêu quần. Các sách của bách gia chư tử, không có sách nào là không xem. Trên thông thiên văn, dưới thông địa lý, không có sự việc nào không biết, không hiểu. Còn Mỹ Phúc, đến tuổi trăng tròn, đẹp như tiên nữ giáng trần, được nhà vua sủng ái, huệ phong làm Hoàng hậu.
 
Năm Sủng Đức 17 tuổi, tuổi già, sức yếu, cha mẹ chàng đều qui tiên. Chàng chọn nơi đất tốt trong làng an táng cha mẹ, ngày ngày hương khói, giữ trọn chữ hiếu. Vừa hết 3 năm chịu tang,  cũng là lúc Vua Hùng hạ chiếu cầu hiền tài để ứng tuyển vào đội ngũ quan lại. Nhiệt tình hưởng ứng, Sủng Đức lập tức tới kinh thành ứng tuyển. Ngài được chấm đỗ, được triệu tới trước thềm rồng để yết kiến nhà vua và quần thần. Thấy ngài văn võ kiêm toàn, nhà vua rất đỗi vui mừng, truyền rằng: Trời đã vì trẫm mà sinh hiền tài, cuối cùng thì trẫm cũng chọn được người tâm đắc. Vua phong cho Sủng Đức làm Đô úy. Từ đó, vua tôi cùng hiệp sức, thiên hạ thái bình, muôn dân no ấm, hoan ca.
 
Giữa lúc đất nước thái bình, thì giặc Ân ở phương Bắc mang quân xâm lược. Tại làng Phù Đổng, huyện Đông Ngàn, đạo Kinh Bắc (nay thuộc Hà Nội), có bà quả phụ tuổi gần tứ tuần sinh hạ được một bé trai, tướng mạo khôi ngôi, hiềm nỗi lên 3 tuổi mà vẫn chưa biết nói, biết cười. Nhưng, vào hôm nghe tiếng sứ giả truyền chiếu chiêu tập hiền tài ra đánh giặc, cậu cất tiếng đòi gặp sứ giả đề đạt yêu cầu. Được nhà vua cấp cho ngựa sắt, roi sắt, nón sắt, chàng trai sau khi ăn xong 7 nong cà, 3 nong cơm, vươn vai vụt lớn trở thành tráng sĩ. Nhà vua cử Sủng Đức làm bộ tướng, cùng vị tráng sĩ xuất trận, lập nhiều chiến công. Đến trận thứ ba, tướng quân Sủng Đức không may rơi vào ổ  phục kích, bị giặc chém rơi đầu. Ngài liền nhặt đầu chắp liền lại với cổ rồi lên ngựa quay về. Khi qua sông, ngài hỏi thuyền chài, từ xưa đến nay, liệu có người nào bị chém rơi đầu, đem gắn lại mà sống không. Thuyền chài đáp: anh linh như tướng quân thì không thể chết được. Ngài tiếp tuc trở về, và đến chiều tối thì tới địa phận làng Sộp (sau cải thành làng Nghĩa Lập), gặp một bà lão bán hàng trà bánh, ngài hỏi bà: có người nào rơi mất đầu mà còn sống được chăng? Bà l•o thực thà trả lời: Người mà như thế thì không thể sống được. Vừa dứt lời, đầu ngài rơi khỏi cổt, thân ng• lăn xuống đất. Qua một đêm, xác ngài được mối đùn lên thành ngôi mộ lớn. Vua Hùng nghe chuyện, lấy làm thương cảm, sắc chỉ khen ngợi và phong tặng ngài Sủng Đức làm Đại vương, phu nhân của ngài là Từ Huệ làm Phi Nhân; sắc chỉ cho trang Nghĩa Lập lập miếu thờ phụng ngài và phu nhân. Dân làng Sộp tôn ngài làm phúc thần, quốc đảo dân cầu đều ứng nghiệm. Hàng năm vào các ngày tiết lệ, đặc biệt là ngày giỗ kỵ đức Thành hoàng ngày 12/9 âm lịch, dân thôn Nghĩa Lập lại tưng bừng mở hội để tưởng niệm đức Thánh.

Đình Nghĩa Lập, nơi thờ đức Thành hoàng Sủng Đức và phu nhân là một công trình kiến trúc khá qui mô, bề thế. Đình được xây vào thời Lê (đầu thế kỷ XVII), được trùng tu lớn vào thời Nguyễn. Theo các cụ truyền lại, xưa đình quay hướng Tây, là chốn linh thiêng, ai đi qua cũng phải ngả nón, mũ cúi đầu, ai xấc sược hỗn láo xâm phạm đình hoặc tỏ vẻ coi thường, sẽ bị Thánh trừng phạt. Sau đó, cách đây khoảng trên 100 năm, dân làng tu sửa lớn, đã xoay lại hướng Tây Nam như ngày nay, với các hạng mục: Tam môn, tường bao, sân, hai dạy tảo xá, giữa là tòa đại đình, rồi đến hậu cung. Mái đình ẩn khuất dưới bóng đa, muỗm cổ thụ xum xuê.
 
Nổi bật nhất và qui tụ nhiều giá trị kiến trúc gỗ cổ truyền của đình Ngh•i Lập là tòa đại đình cao lớn uy nghi, quay nhìn hướng Tây Nam. Công trình chính này gồm có 3 gian, 2 trái, 4 mái lợp ngói, có đao cong vút mềm mại, bờ dải hoa chanh, 2 bên có nghê chầu, theo kiểu thức truyền thống như nhiều ngôi đình ở làng quê đất Việt, tường xây gạch. Bộ khung tòa đại đình làm bằng gỗ lim, được liên kết chặt chẽ các thành phần cột, quá giang, xà, bẩy bằng các loại mộng vuông, mộng chéo, mộng kép. Bộ khung gồm 4 vì, 8 đầu dư, với 4 hàng cột theo chiều ngang và 6 hàng cột theo chiều dọc. Kết cấu vì bên theo kiểu thượng câu đầu trụ con chồng, hạ kẻ gốc, xà nách. Phần chạm khắc trang trí tập trung ở cốn và đầu dư (dưới câu đầu) con trồng và đầu bẩy. Vì giữa kết cấu thượng trụ, câu đầu con chồng, hạ cốn nách. Tất cả là một chỉnh thể thống nhất, tạo thế cân bằng ổn định cho tòa đại đình.
 
Hầu hết các bộ phận kiến trúc trong tòa đại đình đều được bào soi, chạm khắc công phu với kỹ thuật tinh xảo điêu luyện thể hiện ở các đầu bẩy, cốn, con trồng và đầu dư. Trên đầu 8 cột cái ở gian giữa và gian bên nhô ra 8 chiếc đầu dư chạm lộng hình đầu rồng, tóc và râu bay ngược ra phía sau như vươn ra hứng đỡ lấy câu đầu lực lưỡng. Các đầu dư ở đây vốn không phải là bộ phận chịu lực mà chỉ làm nhiệm vụ chuyền lực xuống các đầu cột và kẻ bẩy. Bộ phận kết cấu khung gian giữa nơi trung tâm hành lễ được chạm khắc công phu, mang yếu tố thẩm mỹ cao biểu tượng “Tứ linh” (Long - Ly - Qui - Phượng), “Tứ quí”  (Thông - Cúc - Trúc - Mai) cùng vân mây cách điệu trên các mảng cốn hình long (rồng) cuốn thủy, rùa bơi lượn giữa hoa lá sen trong hồ, long (rồng) cuộn khúc trong mây... với kỹ thuật chạm nổi, chạm lộng, chạm kênh bong rõ từng đường nét, mảng khối, tạo thành bức phù điêu sống động miêu tả thế giới các vật linh trong quan niệm của người Việt cổ.  Hệ thống các đầu bẩy ở tòa đại đình cũng được trang trí công phu các biểu tượng rồng, mây lá và hoa sen cách điệu với nghệ thuật chạm khắc điêu luyện, sắc sảo, nhưng khoáng đạt.
 
Ngăn cách giữa nơi trung tâm hành lễ và hậu cung - nơi tôn nghiêm thờ Thánh, trên trần lát trần thiết sơn son gọi là bầu trời. Dưới cửa võng phủ lớp vàng son chói lọi, nổi bật trên đỉnh với hình “Lưỡng long chầu nguyệt”, hàng chữ Hán khắc nổi trên các ô vuông “Thánh cung vạn tuế”, các ô còn lại chạm những biểu tượng cây, con cao quí: thông, cúc, trúc, mai, long, ly, qui, phượng, hạc thờ và cá lượn. Ô vuông chính giữa là biểu tượng “Long vân hội tụ”, má cửa võng hai bên hình long cuốn thủy, cá chép cong mình vượt vũ môn theo lối đăng đối hài hòa càng tăng vẻ uy nghiêm nơi tôn linh thờ Thánh. Dưới cửa võng, tíu thờ sơn son trên đặt bình hương khay đài, song bình, sâu bên trong đặt kiệu bát cống, hàng hai bên bày bát bửu, tàn lọng, cùng đồ thờ.
 
Nối liền tòa Đại đình, tại gian giữa phía sau 3 gian chuôi vồ chạy dọc (còn gọi là Hậu cung) với kết cấu kiến trúc đơn giản, theo kiểu keo kẻ con chồng xà nách hoàn toàn bằng gỗ lim. Ngăn cách với tòa Đại đình là hệ thống ván gỗ. Trên treo bức đại tự sơn son “Nghĩa di vi thượng”. Hậu cung tuy có kiến trúc đơn giản, song là nơi đặc biệt tôn nghiêm. Trên cùng chính giữa nơi thượng điện đặt ngai thờ Thành hoàng cùng bình hương, khay  đài, đỉnh đồng, mâm bồng, cây nến, hộp đựng sắc phong….
 
Căn cứ vào các đường nét chạm khắc trên các bộ phận kiến trúc trong đình Nghĩa Lập cho biết dấu ấn nghệ thuật điêu khắc gỗ của hai thời đại Lê và Nguyễn. Trong 8 đầu dư thì 7 đầu dư ở tòa đại đình thể hiện phong cách nghệ thuật riêng  với các râu rồng dạng lưỡi mác tù và râu phía dưới xoắn vào nhau. Đây là đặc điểm nghệ thuật chạm khắc thời Lê vẫn thường gặp ở các ngôi đình Bắc Bộ, như các đình: Hồi Quang, Tri Phương, Cảnh Hưng, Tiên Bào,…. vốn có niên đại vào thế kỷ XVII.
 
Trong đình Nghĩa Lập có treo nhiều câu đối khắc chìm trên gỗ quí, với lời văn ca ngợi công tích đức Thành hoàng làng. Ví như:
 
- Kháng ân vĩnh diện Hồng Bàng lộ
Phù Việt hàm thành thiết mã công
 
- Cố quốc binh cư huân liệt ức niên minh bộ lục
Ngô dân thụ tứ anh linh vạn cổ ngưỡng sơn lăng
 
- Hùng thế sáng hồng luân chung cổ trường minh nam sử giám
Nghĩa thiên lưu mã thủ ức niên giao đối sóc sơn cao
 
Hiện nay, đình Nghĩa Lập còn lưu giữ được nhiều hiện vật quí, như: 12 đạo sắc phong của các triều đại phong kiến xưa, bức đại tự, hoành phi, câu đối, ngai thờ, bình hương, đỉnh đồng, bát bửu, kiệu, chóe đựng nước thờ,…
 
Đình làng Nghĩa Lập là một di sản nghệ thuật kiến trúc và tâm linh quí, hiếm, rất cần được bảo tồn tôn tạo để làm điểm tựa văn hóa tâm linh của người dân nơi đây.
 
Linh Ny
CHIA SẺ ĐẾN BẠN BÈ: