HOTLINE: 0904 89 4444

Một vài ý kiến về câu đối tại Tam Quan đề ông Hoàng Mười
(Phương Nam Plus) - Đầu năm 2016, UBND huyện Hưng Nguyên phối hợp cùng sở Văn hóa, Thể thao & Du lịch tỉnh Nghệ An tổ chức sáng tác câu đối ở Tam quan của di tích lịch sử đền Ông Hoàng Mười (xóm Xuân Am, xã Hưng Thịnh, huyện Hưng Nguyên).
16:44 15-07-2019


Đền ông Hoàng Mười tại Hưng Nguyên, Nghệ An

Sau khi tổ chức họp Hội đồng khoa học ngành, Sở Văn hóa, Thể thao & Du lịch đã thống nhất ý kiến chọn khắc 3 câu đối lên Tam quan mới xây dựng, cụ thể như sau:

Câu 1:

Nguyên văn:  
鴻嶺鍾英濯濯靈聲輝聖德 
藍江毓秀洋洋正氣顯神功

Phiên âm: 

Hồng Lĩnh chung anh, trạc trạc linh thanh huy Thánh đức
Lam Giang dục tú, dương dương chính khí hiển Thần công

Dịch nghĩa: 

Núi Hồng hun đúc tinh anh, rỡ rờ linh thiêng làm rạng Thánh đức
Sông Lam nuôi dưỡng tinh tú, lồng lộng chính khí làm rõ Thần công

Câu 2: 

Nguyên văn:  
洞廷水國真皇子 
南越黎朝勇將軍

Phiên âm: 
Động Đình thủy quốc chân hoàng tử
Nam Việt Lê triều dũng tướng quân

Dịch nghĩa: 
Chân hoàng tử của thủy quốc Động Đình.
Dũng tướng quân của triều Lê nước Nam Việt

Câu 3:

Nguyên văn:  
三岐鶴嘴皆勝景 
勇決藍江是營都
Phiên âm: 
Tam Kỳ, Hạc Chủy giai thắng cảnh
Dũng Quyết Lam Giang thị doanh đô

Dịch nghĩa: 
Tam Kỳ, Mỏ Hạc đều thắng cảnh
Dũng Quyết, Lam Giang là dinh đô

Nội dung các câu đối trên không trùng lặp với các câu đối đã khắc tại những di tích có thờ Ông Hoàng Mười ở những địa phương khác, nhằm tạo được dấu ấn riêng biệt tương ứng với vị thế của di tích lịch sử đền Ông Hoàng Mười tại huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, làm tăng thêm vẻ trang nghiêm, cổ kính cho không gian di tích. Tuy nhiên, một số du khách gần xa trong mùa lễ hội đầu xuân sau khi thưởng lãm những đôi câu đối này lại chia sẻ không ít băn khoăn về nội dung và một số vấn đề liên quan khác.

Đặc biệt, trên chuyên san Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An số 9/2016, tác giả Bùi Văn Chất (CLB Hán Nôm Nghệ An) có bài viết: “Đôi điều cảm nhận về 3 câu đối tại đền Ông Hoàng Mười (Hưng Nguyên)” bày tỏ sự góp ý thiết thực để xây dựng một nội dung hoàn thiện và đúng đắn hơn. 


Thông qua hội thảo lần này, chúng tôi với tư cách là những người xây dựng những câu đối trên, muốn trao đổi lại một số vấn đề nhằm làm sáng tỏ nội dung, đồng thời cũng mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp khác trên tinh thần khoa học để thu được những ý kiến đúng đắn và chuẩn xác nhất. Vì vậy, chúng tôi xin trao đổi cụ thể như sau: 

Cặp câu đối thứ 2 

Nguyên văn:  
洞廷水國真皇子 
南越黎朝勇將軍

Phiên âm: 
Động Đình thủy quốc chân hoàng tử
Nam Việt Lê triều dũng tướng quân

Dịch nghĩa: 
Chân hoàng tử của thủy quốc Động Đình.
Dũng tướng quân của triều Lê nước Nam Việt 

Ở vế 1, tác giả Bùi Văn Chất cho rằng “Mỏ Hạc linh từ thuộc Hưng Thịnh, huyện Hưng Nguyên, được anh linh Đệ Thập Hoàng Tử chiếu giám lai lâm, là hồng phúc của Ngài ban cho muôn dân, nơi đắc địa này. Hiển tích của thánh thần chói ngời uy đức, dẫu không ngợi ca linh thanh của đấng tôn thân vẫn thịnh. Tuy nhiên, để “tương xứng với vị thế của di tích trong đời sống tâm linh của nhân dân và du khách”, việc dẫn dụ điển tích vào đây là cần thiết. Song, là truyền thuyết, lại được xưng là “chân hoàng tử” có phù hợp không (?)” 

Việc xưng Ông Hoàng Mười là “Chân hoàng tử” theo chúng tôi là phù hợp và hoàn toàn đúng đắn. Bởi theo sách Đạo Mẫu Việt Nam của giáo sư Ngô Đức Thịnh (Đây được xem là công trình nghiên cứu đầy đủ nhất về đạo Mẫu tại Việt Nam hiện nay) thì nhân vật Ông Hoàng Mười là hoàng tử thứ 10 của vua cha Bát Hải Động Đình. Vì vậy, đã là con của vua, thì việc gọi Hoàng tử có gì là sai, và “Chân hoàng tử” cũng không có gì sai cả. Tác giả cho rằng Ông Hoàng Mười là nhân vật truyền thuyết, nên xưng  “Chân” (chân nghĩa là thật) là không phù hợp. Vậy, Lạc Long Quân và Âu Cơ cũng đều là những nhân vật huyền thoại, không hề có thực, vậy tại sao cả dân tộc chúng ta lại tôn xưng với niềm kính trọng bậc nhất bằng 2 từ “Quốc tổ”? Và câu chuyện trăm trứng đẻ trăm con giữa họ cũng nhuốm màu hoang đường, tại sao đất nước chúng ta lại ghi nhận đó là câu chuyện về cội nguồn dân tộc.

Ở vế 2, tác giả Bùi Văn Chất cho rằng: “Nam Việt/ Lê triều: Nam Việt là quốc hiệu của nước ta thời nhà Triệu (207T - 191T): tồn tại 16 năm, định đô trên đất Phiên Ngung (nay là thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc). Từ ấy về sau, trải hơn 4000 năm lịch sử, nước ta lần lượt mang nhiều quốc hiệu khác nhau: Các triều đại: Lê - Lý - Trần - Lê đều mang quốc hiệu Đại Việt, định đô trên đất Thăng Long. Vậy “Nam Việt/ Lê triều” là một sự nhầm lẫn đáng tiếc (!).

Theo chúng tôi, “Nam Việt/ Lê triều” trên câu đối tại Tam quan di tích hiện nay không phải là một sự nhầm lẫn đáng tiếc. Bởi, “trải hơn 4000 năm lịch sử, nước ta lần lượt mang nhiều quốc hiệu khác nhau: Các triều đại: Lê - Lý - Trần - Lê đều mang quốc hiệu Đại Việt” nhưng không vì thế mà nước ta lại không dùng những quốc hiệu khác, trong đó có Nam Việt. Chúng ta biết rằng nước ta đến thời nhà Đinh, người đứng đầu đất nước ta mới thực sự vươn tới đỉnh cao ngôi vị và danh hiệu, khẳng định vị thế vững chắc của quốc gia độc lập và  thống nhất. Đặc biệt, với vị thế đó đã buộc các điển lễ và sách phong của các triều đại Trung hoa phải công nhận nước ta là một nước độc lập. Từ Đinh Tiên Hoàng trở về sau, người đứng đầu nhà nước không còn xưng là “Vương” hay “Tiết độ sứ” nữa mà đều xưng Đế để tỏ chính thống và ngang hàng với nhà nước phong kiếnTrung Quốc. Đinh Tiên Hoàng là vị hoàng đế đặt nền móng sáng lập nhà nước phong kiến trung ương tập quyền đầu tiên ở Việt Nam. Vì thế ông chính là người mở nền chính thống cho các triều đại phong kiến trong lịch sử. Điểm nổi bật của ông là đặt quốc hiệu Đại Cồ Việt (chứ chưa phải là Đại Việt như tác giả Bùi Văn Chất đã nói ở trên) và phong cho Đinh Liễn (người con trai từng được ông cử làm con tin ở triều đình Cổ Loa trong suốt 15 năm rồi cùng đánh dẹp 12 sứ quân cũng như thay thế ông trong việc bang giao với Trung Hoa) chức “Nam Việt Vương” để khẳng định uy quyền hoàng đế của một quốc gia độc lập. Nam Việt vương được hiểu là vị vương của nước Nam Việt, tuy không phải để chỉ quốc hiệu, nhưng cũng đủ để cho thấy “Nam Việt” không phải chỉ thời Triệu Đà mới có.

Tuy rằng “Đại Việt” là quốc hiệu chính thống và được sử dụng lâu dài nhất trong lịch sử nước ta, nhưng trong nhiều thư tịch cổ lại cho thấy rất nhiều trường hợp không dùng quốc hiệu đó. Các văn bản cổ cho ta thấy việc sử dụng quốc hiệu qua các triều đại ở nước ta rất phong phú: 

Trong tác phẩm “Thiện vị chiếu” (tác giả khuyết danh, thời Lý – Trần) có câu: 

自古南越帝王治天下者有矣唯我李受天眷命奄有四海列聖相承二百餘年

Phiên âm: “Tự cổ Nam Việt đế vương trị thiên hạ giả hữu hĩ. Duy ngã Lý thụ thiên quyến mệnh, yêm hữu tứ hải, liệt thánh tương thừa, nhị bách dư niên...” 

Tạm dịch: ‘Từ xưa nước Nam Việt đã có các bậc đế vương trị vì thiên hạ. Riêng nhà Lý ta nhận mệnh trời thương mến, làm chủ bốn biển, các vị thánh vương truyền nối đã hơn hai trăm năm...”

Ở tác phẩm này, tác giả đã sử dụng “Nam Việt” để chỉ quốc hiệu nước ta.

Trong bài văn bia của Hoàng giáp Nguyễn Trung Ngạn khắc năm Khai Hựu thứ 7 (1335) trên vách núi Trầm Hương (nay thuộc Con Cuông, Nghệ An) kỷ niệm chiến công của Thái thượng hoàng Trần Minh Tông trước quân Ai Lao có câu: 

皇越陳朝第六帝章堯文晢太上皇帝受天眷命奄有中夏薄海內外罔不臣服

Phiên âm: Hoàng Việt Trần triều đệ lục đế, Chương Nghiêu Văn triết Thái thượng hoàng đế thụ thiên quyến mệnh, yêm hữu trung hạ, bạc hải nội ngoại võng bất thần phục...

Dịch nghĩa: Đời vua thứ 6 triều Trần nước Hoàng Việt, Thái thượng hoàng đế Chương Nghiêu Văn triết nhận mệnh trời thương mến, làm chủ cõi trung hạ, khắp trong đất ngoài bể không đâu không thần phục...

Ở tác phẩm này, Hoàng giáp Nguyễn Trung Ngạn lại sử dụng “Hoàng Việt” để chỉ quốc hiệu nước ta. 

Danh sĩ Hồ Tông Thốc trong một tác phẩm sử học nổi tiếng của mình lại dùng “Việt Nam” để chỉ quốc hiệu nước ta, thể hiện ở tác phẩm “Việt Nam thế chí” (nay chỉ còn bài tựa).  

Hồ Quý Ly trong bài thơ “Đáp Bắc nhân vấn An Nam phong tục” để trả lời người phương Bắc về phong tục của nước ta, lại dùng quốc hiệu nước ta là An Nam.

Đặc biệt, nhiều danh nhân nước ta lúc bấy giờ còn dùng “Trung quốc” để chỉ nước ta.

Vua Trần Thái Tông trong tác phẩm Khóa hư lục có câu: “Người được sinh ra ở Trung quốc, có đủ sáu căn, há chẳng quý lắm sao”.

Danh sĩ Hồ Tông Thốc trong bài minh về chùa Báo Ân núi Non Nước có câu: “Ôi! Phật pháp từ khi vào Trung quốc tới nay, thắng địa trong non sông thiên hạ như ngọn núi này đều thuộc về nhà Phật”.

Bậc anh hùng dân tộc - vua Lê Thái Tổ trong bài dụ ban cho cả nước vào tháng 8 năm 1426 có câu: “Giặc còn ở Trung quốc, dân chúng còn chưa yên”.

Văn bia “Đại Việt Lam Sơn Dụ lăng bi” tại lăng vua Lê Hiến Tông trong khu di tích Lam Kinh có câu: “Trung quốc vững mạnh, ngoại di khiếp hãi”.

Bức thư của chúa Trịnh Tráng gửi cho Toàn quyền Đông Ấn Hà Lan tại Batavia vào năm 1637, có đoạn viết: “Nay ta có ý mong quý quan tiết chế của quý quốc Ô Lan kết giao với ta. Trên danh nghĩa chân chính, hai nước đùm bọc thương yêu, mãi đến muôn đời. Vậy cắt cử hoặc hai ba tàu, hoặc hai trăm lính thiện xạ đến Trung quốc ta, lấy đó làm tin”.

Đặc biệt hơn, “Nam Việt” còn được vua Gia Long chọn làm quốc hiệu sau khi đã thống nhất được đất nước. Quốc sử di biên ghi rõ: 

先是欽使阮吉至清奉国書求封清帝許之又請改安南國成南越國清帝不許但訐改為越南國  

Dịch nghĩa: Trước đó Khâm sứ Nguyễn Cát sang Thanh mang quốc thư cầu phong, Hoàng đế nhà Thanh chấp thuận. Lại xin đổi [quốc hiệu] An Nam thành Nam Việt. Hoàng đế nhà Thanh không đồng ý. Nhưng lại cho đổi thành Việt Nam. Vì vậy, Nam Việt, không hẳn là một quốc hiệu, mà chỉ là một cách gọi chung nước ta thời xưa, và cũng không phải chỉ thời Triệu Đà mới có và dùng đến. Ở trong đôi câu đối trên, chúng tôi chủ ý dùng “Nam Việt”, mà ko muốn dùng Đại Việt, Việt Nam, bởi Đại Việt hay Việt Nam là quốc hiệu chính thống và được dùng xuyên suốt của nhiều triều đại (nhà nước) nước ta và thường gắn liền với các nhân vật lịch sử có thật được ghi chép rõ ràng trong chính sử; trong khi đó nhân vật ông Hoàng Mười là nhân vật đã được truyền thuyết hóa lịch sử, nên dùng Nam Việt sẽ hay hơn cả, bởi nó sẽ dung hòa được giữa lịch sử và huyền thoại, tạo hình ảnh nhân vật Ông Hoàng Mười trở nên lung linh, vi diệu.

Tác giả cho rằng gắn Ông Hoàng Mười với “Lê Triều” là nhầm lẫn đáng tiếc. Theo chúng tôi là không, bởi tín ngưỡng đạo Mẫu nói chung và Ông Hoàng Mười nói riêng được hình thành dưới triều đại nhà Lê (Hậu Lê). Ông Hoàng Mười lại được xem là hóa thân của nhiều vị danh nhân nổi tiếng thời Lê như Lê Khôi, Nguyễn Xí. Hơn nữa, một câu đối cũ tại di tích hiện nay vẫn cho rằng ông Hoàng Mười là người thời Lê:

黎朝顯赫忠良將
南國芳名上等神

“Lê triều hiển hách Trung lương tướng;
Nam Quốc phương danh Thượng đẳng thần”

Câu thứ 3 

Nguyên văn:  
三岐鶴嘴皆勝景 
勇決藍江是營都

Phiên âm: 
Tam Kỳ, Hạc Chủy giai thắng cảnh
Dũng Quyết Lam Giang thị doanh đô

Dịch nghĩa: 
Tam Kỳ, Mỏ Hạc đều thắng cảnh
Dũng Quyết, Lam Giang là dinh đô

Ở đây, tác giả Bùi Văn Chất cho rằng “đây là câu nêu lên địa danh nơi Đền tọa lạc, không lẫn với đền Củi Hà Tĩnh, song lại thất luật trắc bằng” nhưng lại không nêu rõ thất luật ở chỗ nào? Tuy nhiên, việc thất luật bằng trắc cũng là một điều bình thường trong việc sáng tác văn học. Các danh sĩ nổi tiếng xưa nay, khi sáng tác họ không quá câu nệ vào niêm luật nhưgng lại làm nên được rất nhiều tác phẩm bất hủ, ví dụ như tác phẩm Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu.  

Tác giả lại cho rằng: “Mỏ Hạc là danh từ riêng mà người đời trước đã giữ nguyên và gắn thêm 2 từ Hán Việt: “linh từ” để chỉ ngôi đền thiêng của bản xã. Thiết nghĩ, câu này được viết bằng tiếng Việt cho mọi người dễ hiểu có hơn chăng”. Chúng tôi cho rằng, việc “Mỏ Hạc” dịch thành “Hạc Chủy” là phù hợp,  bởi trong tổng thể câu đối chữ Hán, phải có tính cân xứng. Nếu đã dùng một địa danh bằng âm Nôm thì vế bên kia cũng phải như vậy. Ở câu đối này, vế kia là “Dũng Quyết, Lam Giang” đều là âm Hán Việt được dung quen thuộc thì vế bên này cũng phải dịch thành Hạc Chủy để cân xứng. Việc dịch sang âm Hán Việt và chữ Hán như vậy là điều thường thấy.   

Những địa danh nổi tiếng trên mảnh đất xứ Nghệ đều có hai tên gọi, một  bằng âm Việt, một bằng âm Hán, ví như sông Rum được dịch thành Lam Giang, Ngàn Hống được dịch thành Hồng Lĩnh, núi con Mèo được dịch thành Miêu Sơn, núi Chuông được dịch thành Chung Sơn, núi Phướn được dịch thành Phạn Sơn, núi Gấu được dịch thành Hùng Sơn, núi Vạc Lớn được dịch thành Đại Hoạch sơn, núi Đầu Rồng được dịch thành Long Thủ sơn, Núi Mềm được dịch thành Nhuyễn Sơn, núi  Sắt được dịch thành Thiết Sơn... Đặc biệt, hai quần đảo ngoài khơi xa, là bộ phận lãnh hải thiêng liêng của máu thịt tổ quốc được dân gian xứ đàng Trong gọi với cái tên Nôm là Bãi Cát Vàng. Nhưng, nó vẫn được các Nho sĩ Đàng Ngoài dịch sang từ Hán Việt là Hoàng Sa hay Hoàng Sa chử. 

Ngay cả như Ông Hoàng Mười, trong bài vị vẫn được dịch sang âm Hán Việt là Đệ Thập Hoàng Tử. Vì vậy, dịch “Mỏ Hạc” thành “Hạc Chủy” cũng là điều hợp lý.
 
Việc sử dụng câu đối chữ Hán tại di tích đền Ông Hoàng Mười càng làm tăng thêm nét cổ kính và sự uy linh của di tích lịch sử lâu đời này. Xưa nay, làm câu đối là một việc làm rất khó. Chúng tôi khi xây dựng nên những câu đối này cũng nhận thấy được trách nhiệm lớn lao đó mà hết sức nghiêm túc trong công việc. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện không thể tránh khỏi những sai sót. Thông qua hội thảo lần này, chúng tôi mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp trên tinh thần khoa học để thu được những ý kiến đúng đắn và chuẩn xác nhất.

(Bài tham luận tại Hội thảo Giá trị lịch sử, văn hoá của Di tích đền Ông Hoàng Mười do Viện nghiên cứu truyền thông Văn hoá dân tộc tổ chức tại Hà Nội)

 
Trần Mạnh Cường
Thư viện tỉnh Nghệ An
CHIA SẺ ĐẾN BẠN BÈ: