HOTLINE: 0904 89 4444

Những khám phá thú vị về Hoàng đế Quang Trung
(Phương Nam Plus) - Quang Trung, vị Hoàng đế kiệt xuất, anh hùng dân tộc lỗi lạc đồng thời là vị tướng tài ba của dân tộc Việt Nam. Cuộc đời của Hoàng đế Quang Trung đã được rất nhiều học giả trong và ngoài nước nghiên cứu, ca ngợi từ nhiều năm qua. Xung quanh cuộc đời và sự nghiệp lừng lẫy nhưng quá ngắn ngủi của vị Hoàng đế Quang Trung vấn làm đau đầu các nhà nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực. Với bài viết này chúng tôi chỉ lý giải cuộc đời của Hoàng đế Quang Trung qua lá số tử vi theo quan niệm vủa người Phương Đông.
23:22 04-01-2018
Nguyễn Huệ (1753 - 1792) còn được biết đến là Quang Trung Hoàng đế, vua Quang Trung hay Bắc Bình Vương, là vị Hoàng đế thứ hai của nhà Tây Sơn, sau Thái Đức Hoàng đế Nguyễn Nhạc. Ông là một trong những lãnh đạo chính trị tài giỏi với nhiều cải cách xây dựng đất nước, nhà quân sự xuất sắc trong lịch sử Việt Nam với những trận đánh trong nội chiến và chống ngoại xâm mà chưa hề thất bại lần nào. Do có nhiều công lao, ông được xem là người anh hùng áo vải của dân tộc Việt Nam.
 
 
Cuộc đời của Hoàng đế Quang Trung được biết đến qua các bộ sử của nhà Hậu Lê và nhà Nguyễn, các sử gia cận đại, hiện đại và cả trong văn học dân gian.
 
Tương truyền Tây Sơn tam kiệt (Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ) là những người rất giỏi võ nghệ và là những người khai sáng ra một số võ phái Bình Định. Nguyễn Huệ khai sáng Yến Phi quyền, Nguyễn Lữ sáng tạo ra Hùng Kê quyền, cả ba anh em Nguyễn Huệ sáng tạo ra Độc Lư Thương. Tây Sơn Tam Kiệt có vai trò rất lớn cho sự hình thành và phát triển võ phái Tây Sơn Bình Định, là những đầu lĩnh sáng tạo, cải cách các bài quyền, bài binh khí để truyền dạy cho ba quân trong giai đoạn đầu khởi nghĩa.
 
Năm Tân Mão 1771, Nguyễn Nhạc cất binh khởi nghĩa, xây dựng căn cứ chống chính quyền tại Tây Sơn ( Bình Định). Trong giai đoạn xây dựng thế lực, Nguyễn Huệ đã giúp Nguyễn Nhạc xây dựng kinh tế và huấn luyện quân sự. Sau 2 năm khởi nghĩa, vào năm Quý Tỵ 1773, anh em Nguyễn Huệ hạ được thành Quy Nhơn. Từ đó quân Tây Sơn đánh ra các vùng lân cận và đến cuối năm 1773 kiểm soát được từ Quy Nhơn ra đến Bình Thuận, làm suy yếu chính quyền chúa Nguyễn. Lúc bấy giờ Nguyễn Huệ mới có 20 tuổi, được Nguyễn Nhạc quyết định cử làm chủ tướng mang quân vào Nam và từ đây con đường binh nghiệp của Nguyễn Huệ, tài năng của Nguyễn Huệ càng được khẳng định.
 
Những chiến dịch tấn công Gia định của quân Tây Sơn đều là những chiến dịch lớn, đặc biệt là khi có Nguyễn Huệ tham gia và oanh liệt hơn cả là trận đánh năm Đinh Dậu 1777 tiêu diệt chính quyền chúa Nguyễn ở đàng trong.
 
Năm Mậu Tuất 1778, Nguyễn Nhạc lên ngôi hoàng đế, Nguyễn Huệ được phong là Long Nhương tướng quân. Lúc bấy giờ các tướng của họ lại lập Nguyễn Ánh (1762- 1820) làm chúa, chiếm lại Gia Định. Đến tháng 3- 1782, Nguyễn Huệ cùng vua Thái Đức ( Nguyễn Nhạc) mang quân thủy bộ nam tiến, phá tan quân Nguyễn. Nguyễn Ánh bỏ chạy về Hậu Giang, sau đó bỏ chạy ra Hà Tiên rồi trốn ra đảo Phú Quốc bị quân Tây Sơn truy kích, cuối cùng Nguyễn Ánh chạy sang Xiêm cầu viện. Nguyễn Huệ đã cho bố trí trận địa và nhử cho quân Xiêm đến Rạch Gầm- Xoài Mút ( ở phía trên Mỹ Tho) để đánh một trận lớn tiêu diệt quân Xiêm. Chiến thắng Rạch Gầm- Xoài Mút của quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy, quân Xiêm khiếp đảm trước sức mạnh của quân Tây Sơn “sợ Tây Sơn như sợ cọp”.
 
Trong khi đó ở Bắc Hà, chúa Trịnh ngày càng suy yếu, Nguyễn Nhạc quyết định đánh chiếm Phú Xuân ( Huế), năm Bính Ngọ 1786 Nguyễn Huệ được cử làm tổng chỉ huy đem quân ra bắc tiêu diệt quân chúa Trịnh. Tháng 4 năm Mậu Thân 1788, vua Lê Chiêu Thống bỏ kinh đô lưu vong, Nguyễn Huệ lại đem quân ra bắc lần thứ hai tiêu diệt Vũ Văn Nhậm, sau đó Nguyễn Huệ rút quân về Phú Xuân.
 
Vua Lê Chiêu Thống chạy sang nhà Thanh, vua Càn Long ( 1711- 1799) sai Tôn Sĩ Nghị đem 29 vạn quân vượt ải Nam Quan tiến vào Đại Việt. Trước tình hình trên, Nguyễn Huệ quyết định lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung, ngay sau đó cất quân ra bắc tiêu diệt gọn quân Thanh xâm lược trong đầu năm tết Kỷ Dậu 1789.
 
Đến ngày 29- 7 năm Nhâm Tý 1792 (16- 09- 1792) Hoàng đế Quang Trung đã đột ngột qua đời, hưởng dương được 40 tuổi. Sự ra đi của Nguyễn Huệ là một tổn thất không thể bù đắp và là điều không may cho nhà Tây Sơn. Cơ nghiệp ông để lại không được người thừa kế xứng đáng bảo tồn nên đã nhanh chóng mất về tay Nguyễn Ánh. Cái chết đột ngột của ông khiến đời sau còn tiếc cho nhiều dự định lớn lao chưa thành hiện thực.
 
Sau khi vua Quang Trung qua đời, đã có rất nhiều giả thuyết được đặt ra, ví dụ như giả thuyết được truyền lại nhiều nhất là: Một buổi chiều thu năm 1792, vua Quang Trung đang ngồi làm việc, bổng hoa mắt, tối sầm mặt mũi, mê man bất tỉnh, người xưa gọi là chứng “huyễn vận’’, còn ngày nay y học gọi là tai biến mạch máu não.
 
Những giả thuyết về cái chết khác như:
 
Hoàng đế Quang Trung bị yểm bùa:

Theo Hoàng Lê nhất thống chí, khi Quang Trung giả sang Bắc Kinh gặp Càn Long, được Càn Long tặng cho chiếc áo, có thêu 7 chữ:
 
Xa tâm chiết trục, đa điền thử

Nghĩa là:

Bụng xe gãy trục, nhiều chuột đồng
 
Theo phép chiết tự, chữ "xa"và chữ "tâm" ghép lại thành chữ "Huệ" là tên của Nguyễn Huệ; "chuột" nghĩa là năm Tý (Nhâm Tý 1792). Ý của dòng chữ trên áo là Nguyễn Huệ sẽ chết vào năm Tý.
 
Giả thiết này ý nói rằng: Nguyễn Huệ chết do áo bị yểm bùa.
 
Bệnh:
 
Sách Ngụy Tây liệt truyện, một tài liệu chính sử của Sử quán triều Nguyễn ghi giải thích cái chết của vua Quang Trung như sau:
 
“Một hôm, về chiều, Quang Trung đang ngồi bỗng xây xẩm, tối tăm, thấy một ông già đầu bạc từ trên trời xuống, mặc áo trắng, cầm gậy sắt, mắng rằng: “Ông cha người sống ở đất của Chúa, đời đời làm dân Chúa Nguyễn, sao phạm đến lăng tẩm…". Rồi lấy gậy đánh vào trán Quang Trung, mê man ngã xuống, bất tỉnh nhân sự lâu lắm… Từ đó, bệnh chuyển nặng…"
 
Sách Tây Sơn thực lục cũng có ghi "Huệ mắc bệnh nặng, chữa không khỏi…". Và sau khi Quang Trung mất, vào tháng một năm Càn Long thứ 58 (1793), Quách Thế Huân cũng báo cáo với Càn Long: "Quang Trung đã chết vì bệnh".
 
Một giáo sĩ tên Longer, có mặt ở Đàng Ngoài vào những thời điểm này, đã viết trong một bức thư đề ngày 21 tháng 12 năm 1792 là vua Quang Trung chết vì bệnh, nhưng không rõ là bệnh gì.
 
Các nhà nghiên cứu về sau gạt bỏ các chi tiết mê tín trong Ngụy Tây liệt truyện thì họ cho rằng Quang Trung đã bị một cơn tăng huyết áp đột ngột.
 
Theo tử vi phương đông thì Hoàng đế Quang Trung có sao Thất Sát miếu địa thư mệnh, mà mệnh của ông lại ở cung thân, thuộc Kim, các sao chiếu mệnh của ông thuộc Thất Sát, Tham Lang, Phá Quân. Thuộc cánh sát phá liêm tham nghĩa là cốt cách của một võ tướng. Cộng với hoàn cảnh xuất thân ở Bình Định là nơi đất võ, nên ông nghiễm nhiên từ nhỏ đã có cốt cách của con nhà võ. Năm Tân Mão 1771, ông tròn 18 tuổi đã là một trong những chủ chốt của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn. Ông vốn mang mệnh Kim nên nó cũng phù hợp với sự phát triển của một võ tướng. Ở cung Nô Bộc (bạn bè, người dưới quyền) có thiên cơ ở vị trí đắc địa, nên Quang Trung có rất nhiều người tài phò tá, giúp đỡ. Vì vậy mà trong cuộc đời binh nghiệp ông đã lập được nhiều chiến công hiển hách.
 
Hoàng đế Quang Trung là con người có rất nhiều tham vọng bởi cung tài của ông có sao Tham Lang vượng địa, mà cung tài của ông lại ở cung Thìn (Thổ), một trong bốn cung tứ mộ (Thìn- Tuất- Sửu- Mùi), nên sau này ông đã tự xưng là hoàng đế. Ở cung Thê (vợ) của Quang Trung có sao Liêm Trinh vượng địa cộng với Hữu Bật và sao Thai, nên ông có rất nhiều vợ. Tuy nhiên cung Phúc Đức của Quang Trung có sao Đà La Hóa Ky, lại gặp sao Tuần án ngữ, nên tuổi thọ của ông không dài. Năm Nhâm Tý 1792 thuộc Mộc, khắc với bản mệnh của ông là Thổ, nên ông đã không qua khỏi được năm đại hạn này.
 
Sau cái chết của Quang Trung,, nhà Tây Sơn đã suy yếu nhanh chóng. Những người kế thừa của ông đã không thể tiếp tục những kế hoạch mà ông đã đề ra để cai trị nước Đại Việt, lâm vào mâu thuẫn nội bộ và thất bạo trong việc tiếp tục chống lại kẻ thù của Tây Sơn, chính vì vậy mà mãi đến năm Nhâm Tuất 1802 triều đại nhà Tây Sơn đã hoàn toàn sụp đổ.
 
Cuộc đời hoạt động của Hoàng đế Quang Trung được một số sử gia đánh giá là đã đóng góp quyết định vào sự nghiệp thống nhất của triều đại Tây Sơn. Tuy chỉ sống 40 năm nhưng ông đã lập được nhiều chiến công hiển hách sau hơn 20 năm liên tục chinh chiến và trị quốc, ông là vị tướng trên thế giới chưa thua một trận nào ( bách chiến bách thắng). Nhưng cuối cùng theo quan niệm của người phương đông, mọi việc không tránh được số, Hoàng đế Quang Trung cũng kết thúc cuộc đời theo lá số tử vi của ông, nhân mệnh cũng không thắng được thiên. Ông mất đi để lại nhiều triều đình nhà Tây Sơn và nhân dân cả nước.
 
Nguyễn Văn Vương
CHIA SẺ ĐẾN BẠN BÈ: