HOTLINE: 0904 89 4444

Giải nghĩa tồn nghi về địa danh Madagui/Mađaguôi
(Phương Nam Plus) - Ở Lâm Đồng, cụ thể tại huyện Đạ Huoai, có một địa danh mà xưa nay vẫn tồn tại hai cách gọi, kể cả trong các văn bản hành chính, là Madagui và Mađaguôi, làm cho nhiều người thật sự lúng túng, không biết nên viết Madagui hay Mađaguôi mới đúng quy chuẩn.
23:43 30-09-2018


Chỉ 1 địa danh mà tồn tại 2 cách gọi

Ba cách lý giải hiện có 

Hiện tại, qua ghi nhận, địa danh trên có ba cách giải thích và dĩ nhiên có những tương đồng cũng như những dị biệt song hành.

Theo cách giải thích của ông Võ Ngọc Chuyển, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Du lịch Sài Gòn - Madagui, thì Madagui vốn là từ địa phương. Cụ thể ở đây là tiếng của người Mạ, một tộc dân gốc Tây Nguyên. “Madagui được người Pháp phiên âm theo mẫu tự Latin thành Mađaguôil. Từ “guôil” là biến âm của chữ “gold” trong tiếng Anh. Chúng tôi tìm hiểu thì Ma là người Mạ, Da là Đạ (nước), còn Gui = gold là vàng. Madagui có nghĩa là dòng sông vàng của người Mạ”, ông Võ Ngọc Chuyển nói.

Cùng một ý với ông Võ Ngọc Chuyển, song ở cách lý giải thứ hai, nghĩa chiết tự đã nhường chỗ cho màu sắc huyền sử. Trong một bài báo, tác giả Nguyễn Đăng Linh (tên tác giả đã được thay đổi - PV) cho rằng, Ma tức người Mạ, Da có nghĩa là nước, Gui là chỗ dừng chân (nếu là chỗ dừng chân thì phải viết là “rờ - lô yơng” mới đúng - PV). Madagui là vùng đất có sông suối, nơi người Mạ chọn làm nơi dừng chân để sinh sống. 

Từ đây, tác giả bài báo đã đi xa hơn cái ý nghĩa thông thường của câu chữ. “Theo truyền thuyết (không biết tác giả Nguyễn Đăng Linh trích dẫn cứ liệu ở đâu - PV), thuở xa xưa, trong một đợt hạn hán kéo dài, khắp bon làng người Mạ, trẻ em khóc thét suốt ngày vì khát. Giữa bối cảnh ấy, có một phụ nữ sinh con, nhưng không có sữa cho con bú. Người chồng phải vào rừng tìm trái cây cho vợ con ăn. Chàng vượt qua ba ngọn núi, bảy cánh rừng. Chàng đi, đi mãi. Một buổi sáng, khi mặt trời vừa nhô cao, chàng phát hiện có tổ ong, bèn giương cung bắn. Mũi tên vừa trúng đích, lập tức một dòng nước bắn thẳng về phía chàng. Chàng hốt hoảng vội bỏ chạy, tức thì dòng nước đuổi theo. Chàng chạy đến đâu, nước theo đến đó. Kiệt sức, chàng gục xuống tại một cánh rừng và thiếp đi, dòng nước cũng dừng lại và lan rộng thành một vũng nước sâu. Nhờ dòng nước này mà bon làng được cứu sống và tồn tại cho đến ngày nay”. 

Quả là một trí tưởng tượng... phi phàm! Na ná cách giải thích này, tác giả Trần Nguyên Hùng (tên tác giả đã được thay đổi - PV), người có nhiều năm lăn lộn trong vùng người dân tộc thiểu số Mạ và K’Ho, lý giải về địa danh Madagui như sau: “Ma là do người Việt nói trại chữ Mạ mà thành. Da hay còn gọi là Đạ, có nghĩa là nước, suối, sông”. Riêng chữ Gui thì tác giả Trần Nguyên Hùng bảo chưa biết nghĩa. Tuy vậy, tác giả Trần Nguyên Hùng vẫn cắt nghĩa từ Madagui là “Dòng sông dừng chân của người Mạ”.

Những cách giải thích trên hoàn toàn xa lạ và trái ngược với cách cảm, cách nghĩ đậm tính trực giác giản đơn của người dân Mạ và K’Ho. Ông K’Tràng Ning (ngụ xã Gia Bắc, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng) khẳng định: “Trong vốn từ của người Mạ, chữ Madagui/Mađaguôi hoàn toàn không có. Do vậy, nếu có viết Madagui hay Mađaguôi thì cũng chẳng có ý nghĩa gì cả”.

Cứ như lời ông K’Tràng Ning thì nguyên do từ đâu một từ/cụm từ vốn không có trong kho từ vựng của cư dân bản địa, vậy mà một số người lại tự ý suy diễn để rồi dịch Madagui/Mađaguôi thành “Dòng sông vàng của người Mạ”, “Nơi người Mạ dừng chân”, “Dòng sông dừng chân của người Mạ”? Phải chăng, đấy là thói huênh hoang ra vẻ ta đây là người am hiểu, uyên bác trong lĩnh vực dân tộc học. Nhưng nói gì thì nói, một khi sự việc chưa hoàn toàn được làm sáng rõ, mọi cắt nghĩa, giải thích dù ở dưới bất cứ góc độ, luận chứng nào cũng đều để lại tồn nghi. Thêm nữa, xưa nay, không ai đi tách riêng từng chữ, rồi dịch nghĩa từng từ một bao giờ (trừ trường hợp chiết tự trong Hán ngữ - PV). “Nếu thế, chả lẽ American cũng có thể tách ra thành “A”, “me”, “ri”, “can” rồi dịch là nước Mỹ sao?”, ông K’Tràng Ning đặt câu hỏi.
 

Cách giải thích khác 

Theo ông K’Tràng Ning, Madagui/Mađaguôi là cách gọi của người Kinh, người dân tộc thiểu số Mạ và K’Ho (kòn cau) không ai gọi thế cả. Người Mạ ở đấy tự gọi mình là Mà - Dà - Guôih (đọc là Mạ - Thạ - Guôih) để phân biệt với người Mạ ở những vùng đất khác, như: Mà B’Lao, Mà Dà Teh, Mà Dà Bin, Mà M’Rông Srê Kăng... (Trong tiếng Mạ và K’Ho, ngữ hệ Môn Khmer, khi chuyển sang Việt ngữ, dấu “huyền” đọc gần như dấu “nặng”, chữ “D” đọc như chữ “Th”, còn chữ “H” dù đứng ở đầu câu hay cuối câu đều là âm câm - PV). Mà - Dà -Guôih có nghĩa là người Mạ ở Thạ Guôih. Cũng theo ông K’Tràng Ning, trong quá trình cộng cư với người Kinh, chữ Mà biến thành chữ Mạ, Dà thành Đạ (trường hợp Dà Làc thành Đà Lạt và Dà Teh thành Đạ Tẻh) còn có thể chấp nhận được. Chứ như việc tự suy diễn rồi dịch như nêu ở trên, thì đấy là một cách làm phản folklore nhất. 

Có chung quan điểm với ông K’Tràng Ning, bà Ka Bểu (ngụ xã Đinh Trang Hòa, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng) bảo: “Chả cứ gì người Mạ, nhiều dân tộc trên thế giới cũng thường lấy địa danh nơi mình sinh sống để làm “thẻ căn cước công dân”. Ví như, anh ở Đà Lạt (từ gốc là Dà Làc sau đó biến thành Đà Lạt), tôi ở Di Linh (N’jrềng, người Pháp phiên âm thành Djring, rồi ra Di Linh trong Việt ngữ); rộng ra nữa thì, chị nọ đến từ Mỹ (công dân Mỹ), anh kia tới từ Trung Hoa hay Nhật Bản... Mà - Dà - Guôih (người Mạ ở Thạ Guôih) cũng một lẽ ấy!”. 

Đến đây, mọi tồn nghi về địa danh Madagui/Mađaguôi đã được giải nghĩa tỏ tường. Chưa cần xét đến góc độ sử học hoặc giải nghĩa từ ngữ dưới góc độ nghĩa từ nguyên, chỉ đơn giản theo phương pháp nghiên cứu dân tộc học, nghĩa là tôn trọng tiếng nói của chủ thế văn hóa, ở đây là người bản địa Mạ và K’Ho, cũng đủ thấy sự khúc triết và tính hợp lý về mặt ngữ nghĩa trong cách giải thích chữ Mà - Dà - Guôih của ông K’Tràng Ning và của bà Ka Bểu. Ký ức dân tộc là những gì còn lại sau tất cả. Thêm nữa, nếu cần thực chứng lại thông tin, xin hãy khoác ba lô rồi lên đường đến các bon của người Mạ, người K’Ho và đem theo Madagui/Mađaguôi ra hỏi, chắc chắn từ già đến trẻ, từ gái đến trai... sẽ lắc đầu: “Ơ git!” (không biết). Còn nếu đem Mà - Dà - Guôih ra để hỏi, mọi người sẽ bảo: “À! Nó là cái người Mạ ở Thạ Guôih ấy mà!”. Ký ức dân tộc lúc này đã trở thành căn tính dân tộc. 

Tuy nhiên, tự vấn đề lại đẻ ra vấn đề: Đổi tên một địa danh, cho dù sai sót là do lịch sử để lại, đâu phải chuyện giản đơn. Trong diễn trình lịch sử, địa danh ổn định là tối quan trọng. Nếu bắt buộc phải đổi, chỉ tính riêng thiệt hại về phần cá nhân trong việc làm lại giấy tờ tùy thân đủ mướt mồ hôi rồi. Còn nữa, những thứ có liên quan ở các nơi khác: Công văn, biển chỉ dẫn, sách vở, bản đồ... cũng phải đổi và như thế cứ nhân lên cho hơn 90 triệu người dân Việt, con số tài chính phải bỏ ra để giải quyết vấn đề là rất lớn. Chưa kể, nếu đổi lại địa danh, sẽ phải tốn tiền xây dựng hình ảnh mới và còn phải bù đắp thiệt hại do hệ thống địa danh bị đứt gãy. Sự bỡ ngỡ về các thủ tục hành chính (vì chưa quen), có thể kéo theo nhiều phiền hà tới đời sống nhân dân... Giá mà các nhà dân tộc học thận trọng và nghiêm túc hơn trong quá trình điền dã, khảo cứu những vấn đề liên quan đến tên đất, tên người ở vùng dân tộc thiểu số thì sự sai sót có tính lịch sử này đã không xảy ra.
 
Trịnh Chu
CHIA SẺ ĐẾN BẠN BÈ: