HOTLINE: 0904 89 4444

Có một “ngọn đèn” nơi tiền tiêu sóng dữ
(Phương Nam Plus) - Trải qua biết bao biến thiên của lịch sử, của đời người, cuộc sống của người dân trên đảo Cù Lao Chàm bây giờ đã có nhiều đổi thay đến ngỡ ngàng. Trong một chuyến công tác tại đây, chúng tôi đã ghi lại những niềm phấn khởi không chỉ của người dân, mà là sự thay đổi trong ấm no của vùng đảo như ám tiêu chắn trước cửa ngõ biển Đông của Quảng Nam.
21:37 06-12-2020
 
Một góc đảo Cù Lao Chàm

Trên hòn đảo tiền tiêu
 
Rời bến cảng Cửa Đại lúc 8 giờ sáng, nếu đi cano cao tốc thì chỉ mất vài mươi phút là đến được với thiên đường du lịch ở miền Trung này. Nhưng cái thú đi tàu chợ để được nhìn thấy sóng nước mênh mang vẫn cám dỗ chúng tôi hơn. Nói là tàu chợ nhưng thật ra đó là những tàu đánh cá của ngư dân đã được sửa sang lại để phục vụ du lịch cũng như vận chuyển hang hóa và hành khách.
 
Đi cùng chúng tôi trong chuyến đi ấy còn có hai anh lính Biên phòng thuộc Đồn biên phòng Cửa Đại, cùng rất nhiều người dân xã đảo Cù Lao Chàm mang hàng hóa ra đảo sau những phiên chợ sáng tất bật. Tàu rẽ sóng ra khơi, mùa này biển êm ả lăn tăn những con sóng nhẹ nên chiếc tàu chở chúng tôi cứ lừng lững tiến một đường thẳng ra đảo, bỏ lại phía sau những chiếc thyền thúng cặm cụi thả lưới. Hai bên sóng nước rẽ ra sủi bọt trắng xóa, từng đàn cá bơi theo phía sau khoang thuyền. 
 
Hơn một tiếng đồng hồ giữa trời mây sông nước bao la, tàu cập bến Cù Lao Chàm. Đảo xanh đón chúng tôi trong ánh nắng ban mai dịu mát và những tiếng động của cuộc sống đời thường và những chiếc tàu cá nằm nghỉ ngơi sau bao ngày bôn ba trên biển cả. Cầu tàu khá rộng để có thể đón nhiều chuyến tàu cặp bến cùng lúc. Cả một không gian rộng lớn ập vào mắt chúng tôi. Nhưng ấn tượng nhất là sự đón tiếp vô cùng niềm nở của cư dân trên đảo. Đặt chân lên đảo, điều cảm nhận được đầu tiên là những nụ cười và không biết bao nhiêu lời hỏi thăm với những người khách đến từ đất liền. Cuộc sống của cư dân nơi đây cũng không khác gì trong đất liền, cũng có những nhà hang rộng rãi, những quán cà phê nhạc xập xình, chợ búa bán đủ loại nhưng nhiều nhất vẫn là các loài hải sản như bào ngư, tôm cá, mực một nắng và ốc vú nàng là hai thứ đặc sản của đảo không nơi nào sánh được. Ngoại trừ những thứ hải sản, các loại mặt hàng khác có giá cao hơn so với đất liền bởi khoảng cách biển trời nhưng không đến nỗi quá đắt đỏ. 
 
Dạo quanh một vòng để thăm thú cuộc sống của cư dân trên đảo, thấy cuộc sống ở đây cũng khá sung túc. Nhưng ngôi nhà hai tầng, ba tầng mọc lên san sát, truyền hình cáp được khá nhiều hộ dân sử dụng, có trường học để trẻ em trên đảo đến lớp và rất nhiều khối cơ sở vật chất được xây dựng phục vụ đời sống người dân. Chúng tôi đến thăm giếng cổ của người Chăm được xây dựng cách đây gần chục thế kỷ, nước vẫn trong và mát ngọt như thủa nào, mặc cho dấu vết của thời gian đã làm rêu phong bờ giếng. Cùng với đó, tiếng chuông vang lên đều đều từ ngôi chùa cổ cách đó không xa đã kích thích chúng tôi tìm đến. 
 
Đi trên con đường đã được bê tông hóa đi một vòng quanh đảo, thăm Đồn biên phòng Cù Lao Chàm nằm thấp tháng trong bóng rừng cây. Mặc dù cũng là lính đảo, nhưng cuộc sống của các chiến sỹ biên phòng nơi đây không đến nỗi quá gian khổ so với những người lính Trường Sa hay những đảo xa khác. Nhưng không vì thế mà các anh lơi là nhiệm vụ dù chỉ một giờ một phút…
 
 
Cuộc sống của cư dân trên đảo



Đặc sản mực một nắng Cù Lao Chàm
 
Có một “ngọn đèn” ở nơi tiền tiêu sóng dữ
 
Biển hiện ra trước mắt chúng tôi trong xanh đến vô cùng. Cái nắng nóng tan đi theo những đợt sóng êm đềm vỗ vào bờ cát trắng. Ngoài xa kia thấp thoáng những chiếc tàu cá đang buông neo thả lưới, chờ đợi những khoang thuyền nặng đầy để trở về. Hiện tại dân số trên hòn đảo này gồm khoảng hơn 3.000 người. Trong khi đó 98% tập trung ở Bãi Làng, nơi có cầu cảng. Số còn lại sống rải rác trên các bãi khác phục vụ du lịch. Khi chúng tôi đến gặp đòng chí Chủ tịch xã đảo Tân Hiệp Cao Văn Phải, ông đã hồ hởi khoe: “Các anh thấy hòn đảo của chúng tôi có đẹp không? Có đáng được gọi là thiên đường du lịch không?” Chúng tôi gật gù, ông chủ tịch ra chiều rất đắc ý. Ông Phải cho biết, nghề chính trên đảo chỉ là đi biển và làm du lịch. Chuyện làm du lịch thì chúng tôi đã thấy. Còn chuyện đi biển thì sao?! Ông Phải gật gù: “Ở đảo mà không đi biển thì đâu phải là dân đảo! Ở đây phần lớn là những người theo nghiệp biển, có người tới 4 - 5 đời rồi các anh ạ! Biển với chúng tôi là một mà!” thế rồi ông Phải dẫn chúng tôi đến với những lão ngư đã sống một đời với biển.
 
Với người dân Cù Lao Chàm này, thì làm du lịch là nghề thuộc hàng “cung đình” so với nghề đi biển, nhưng cũng chỉ mới ngót nghét chục năm trở lại đây thôi, còn trước đó, từ người già đến trẻ con đều lấy mũi tàu làm hướng mưu sinh. Khi mặt trờ đã gác mái triền tây, chúng tôi được may mắn được ngồi hầu chuyện với mấy lão làng trong nghề đi biển của xứ cù lao này, bên mâm cơm cũng toàn đồ biển. Các vị lão làng đã ở tuổi “tri thiên mệnh” kể cho chúng tôi nghe chuyện đi khơi về lộng ngày trước mà thấy lạnh cả sống lưng. Bởi ngày xưa thuyền đi lộng, đi khơi không thể sánh được như bây giờ, chủ yếu là thuyền buồm nương theo sức gió, vậy mà các cụ vươn tới cả bãi “Cát Vàng” (tức Hoàng Sa) mà đánh bắt.
 
Lão ngư Lê Lường (77 tuổi) hớp một ngụm rượu đầy rồi thong thả kể về một chuyến biển của mình. Lần ấy trên thuyền của cụ lường có 6 tay lưới, mỗi tay dài cả gần cây số mà chỉ có 5 người. Khi phát hiện đàn cá lớn gần bãi “cát vàng”, mọi người vội vã thả lưới rồi nghỉ ngơi để nửa đêm đi thăm lưới. Nửa đêm, một người ở lại thuyền, còn bốn người chia làm hai thúng lần theo mép lưới mà đi. Bất đồ trời nổi cơn giông bão, chẳng ai liên lạc được với nhau, cố bám vào phao lưới để giữ chiếc thuyền thúng khỏi bị gió cuốn phăng đi. Đèn bão thì tắt ngúm, giữa biển đêm đen đặc phải vật lộn để giữ được mạng sống, mỗi người phải vật lộn với bão tố, với cơn đói cồn cào suốt một ngày đêm… rồi lão ngư Lê Lường bị hất xuống biển, sáng hôm sau được cứu bởi một tàu bạn ở tận vùng biển… Quảng Ninh. Còn người trên thúng với lão thì mất tăm hơi. Sau mấy ngày trên thuyền bạn, ông lão mới mua được vé tàu lửa về Hội An, rồi lên tàu lại để ra lại đảo. Chặng đường ấy mất đúng mười ngày. Khi về đến nhà, thấy bà con xóm chài đang làm lễ cúng cho mình. Hỏi ra mới biết, người bạn trên thúng trong cơn bão bị trôi dạt vào cửa biển Đà Nẵng, rồi về trước và thông báo rằng ông đã mất tích trong cơn bão biển đêm. Vì thế bà con xóm chài và gia đình làm lễ chôn cất, đắp hình nhân và chuẩn bị làm mộ gió. Ai ngờ ông lão trở về, mừng mừng tủi tủi trong nghi ngút khói hương bến thuyền hôm ấy… để rồi sau lần ấy, ông lão lại cùng các bạn chài đi những chuyến biển khác mà đến bây giờ ông cũng chẳng nhớ nổi là bao nhiêu nữa.
 
Còn rất nhiều câu chuyện của các lão ngư khác ngồi xung quanh chúng tôi, mà chúng tôi chẳng thể nào viết hết ra trong phóng sự này. Khi cuộc rượu của các lão ngư đang đến hồi hưng phấn, thì phía biển đông mây đen kéo tới. Chẳng ai bảo ai, nhanh như sóc, các lão ngư ở cái tuổi thất thập ấy đã dẫm chân vào mép nước, kẻ đóng cọc, người kéo dây đưa ghe lên bờ để khỏi bị sóng đánh dạt. Khi tôi giơ máy ảnh lên định xin các cụ mấy kiểu ảnh cho bài viết, thì một lão ngư đã xua tay không đồng ý. Chúng tôi đành bấm bụng chịu đựng vì biết mình không được làm điều gì thất thố. Và rồi chỉ trong buổi chiều ngắn ngủi ấy, mấy kẻ trẻ tuổi chúng tôi đã được chứng kiến bài học vỡ lòng của người dân trên đảo, để khi ngồi viết những dòng chữ này, chúng tôi cứ thao thiết mãi không thôi về sức sống của con người nơi đầu sóng. Họ là những ngọn đèn trên biển nước tiền tiêu, để canh giữ biển trời đất nước suốt bao đời nay…
 
Đêm Cù lao yên bình, chỉ có những tiếng sóng vỗ dạt dào vào các ghềnh đá, như tiếng ru của biển tự ngàn xưa. Các đảo thu mình lại trong giấc ngủ sau một ngày chào đón khách. Xa xa, ánh sáng của những chiếc thuyền câu mực ban đêm lóng lánh như những đàn đom đóm lập lòe giữa đêm biển đen đặc. Đứng giữa đất trời và biển cả mênh mông như thế, mới thấy đất nước mình đẹp vô cùng.
 
Sáng sớm hôm sau, chúng tôi rời khỏi đảo cũng trên chiếc tàu chợ hôm trước. Ánh bình minh trên đảo tiễn chúng tôi về đất liền hòa với sóng biếc đại dương sóng sánh. Những cư dân trên đảo ra tiễn chúng tôi bằng những nụ cười và ánh mắt hân hoan, bằng cả những cái bắt tay trìu mến và những lời chúc mộc mạc, giản dị của người dân vùng biển. Tàu chầm chậm rời khỏi đảo, vẫn thấy luyến tiếc vì thời gian không đủ để có thể khám phá hết được những vẻ đẹp còn tiềm ẩn nơi đây. Trong ánh nắng ban mai, cụm đảo nổi lên trên mặt biển đẹp rạng rỡ như nàng tiên cá trên biển, sóng sánh và huy hoàng…
 
Ngọc Diệp
CHIA SẺ ĐẾN BẠN BÈ: