HOTLINE: 0904 89 4444

Tiến sĩ Nguyễn Kiều - Người đi tìm "Nhất điểm tinh hoa"
(Phương Nam Plus) - Trân trọng giới thiệu tham luận của Trần Thị Băng Thanh nhan đề Tiến sĩ Nguyễn Kiều - Người đi tìm "Nhất điểm tinh hoa" tại Toạ đàm "Danh nhân Nguyễn Kiều và Đoàn Thị Điểm với quê hương Phú Xá" tổ chức sáng 12/2/2020.
16:43 12-12-2020
 
Hoành phi ở gian chính giữa nhà cũ tương truyền là của TS Nguyễn Kiều được chuyển từ nhà dải vũ trước điện Kính Thiên trong Cấm Thành Thăng Long về dựng làm nhà ở tại Phú Xá.

Nguyễn Kiều nổi tiếng đương thời là người giỏi văn thơ, năm 1715 đã đỗ tiến sĩ, sau đó được bổ dụng, và đến năm 1740 được trao chức Quyền thự thiêm đô Ngự sử, một chức quan cần có bản lĩnh vững vàng và chính trực liêm khiết.

Thiếu những phẩm chất đó, người làm quan hoặc sẽ chỉ là một chức vị cho đủ số hoặc thậm chí phụ hoạ với sai trái, tội ác của vua chúa. Tiến sĩ Nguyễn Kiều đã làm tròn chức trách của mình. Ông là người khiêm nhường, kiệm lời, lần duy nhất ông tự nói về phẩm hạnh của mình là trong bài văn tế vợ: “Đã không cầu cạnh, đâu sợ việc Ô đài; không ngại đường xa, chẳng buồn chức Tham thị”. Nhưng có lẽ một sự việc làm nên nét độc đáo nhất của ngài Tiến sĩ Đô ngự sử lại là việc rất riêng tư. Đó là câu chuyện tình duyên và gia thất của Tiến sĩ với nữ sĩ họ Đoàn. Tiến sĩ tìm đến với nữ sĩ khá muộn, lúc ông đã gần đến tuổi “tri thiên mệnh” mà nữ sĩ cũng đã qua thời thanh xuân. Hai người đã trải qua nhiều mưa gió trong cuộc đời. Đoàn Thị Điểm đã từng phải đối diện với mấy lần cầu hôn, không dễ dàng từ chối. Lần trước là công tử Nhữ Đình Toản, năm ấy nữ sĩ vừa mãn tang cha, mới 25 tuổi, Nhữ Đình Toản hơn hai tuổi, nữ sĩ không thuận, rồi đến Thượng thư Siêu Quận công, sau lại đến vị quốc thích Bỉnh Trung công với nhiều lần mai mối và một cuộc cầu hôn mà như “bắt cóc”, nữ sĩ đều không thuận, thậm chi trốn chạy. Đoàn Thị Điểm là một người cứng cỏi, có tinh thần tự lập, “tự cao”, nữ sĩ kén chọn ý trung nhân rất khắt khe, không chịu sự gán ghép, cũng không muốn để hôn nhân làm luỵ. Khi Nguyễn Kiều tìm đến, nữ sĩ đang rất bình yên với cảnh nhà giáo thanh bạch, một mái trường giản dị đông vui, một gia đình ấm cúng, chuyện tình riêng đã không còn để tâm đến nữa..., như một hình tượng của văn học Nga “chiếc dương cầm khoá kín mà chìa khoá đã mất”. Nguyễn Kiều là người đi tìm chiếc chìa khoá ấy. Cuộc cầu hôn của ông rất chân thành, tôn trọng đối phương và cũng rất tự trọng, vừa giản dị lại vừa lãng mạn hào hoa. Đoàn Thị thực lục đã ghi lại sự việc độc đáo nhất trong giới văn nhân tài tử thời trung đại ấy: 


“Một hôm phu nhân đang ngồi nghiêm trang giảng sách, người nghe đứng vòng quanh đến hơn năm chục, chợt thấy rặng trúc phía trước lay động, rồi một người từ ngoài đi vào, có vài người bõ già theo sau đưa lên một cái hộp kim sa, trong hộp để một bức thư phong dán rất kỹ, Phu nhân mở ra xem, thì chính là thư cầu hôn của Thị Lang Nguyễn Kiều người Phú Xá. Xem thư xong phu nhân than: 

- Ta từ lúc thiếu thời đến nay [kén chồng] đã hơn hai mươi năm, cuối cùng việc ấy cũng không quan tâm nữa. Thường bảo: giai nhân tài tử gặp gỡ xưa nay vẫn khó khăn, chi bằng tẩy rửa lòng trần, nuôi lấy khí tượng thanh bình, từ lâu đã không để ý đến chuyện loan phượng. Người ấy là ai, nay lại đem chuyện trần duyên khuấy động lòng ta!”  

Nguyễn Kiều rất tinh tế trong lần đầu ngỏ lời cầu hôn. Ông không ngựa xe tôi tớ rộn rịp, không ngọc lụa sa hoa mà chỉ có “một người với vài bõ già theo hầu”, rõ ra tình cảnh neo đơn, thanh bạch, nhưng lá thư thì dán kín đặt trong hộp kim sa, đủ thấy sự trân trọng, kín đáo. Chính vì thế ông đã tìm được chìa khoá của chiếc dương cầm, đã “khuấy động” lòng nữ sĩ. Nữ sĩ không nhận lời, ông tiếp tục gửi lá thư thứ hai, người đại diện cho ông lần này là cháu ruột: 

“Bà không nhận lời. Không ngờ hơn tuần sau, Thị lang lại sai người cháu ruột đem thư đến, thư nói: ‘Hiện việc công bận rộn, ngày đi sứ lại đến gần, trong nhà thiếu người chủ quỹ, mọi việc không ai coi sóc. Huống nữa nương tử với gia nội trước, tình thân như chị em, nghĩa keo sơn gắn bó, nếu nương tử bao dung cho thì cả nhà tôi thật là đại hạnh’. Lời thư rất khẩn thiết, tình cảnh thật thê lương, bà cũng có nửa phần thương xót, nhưng nghĩ lại tấm lòng thanh sảng, cảnh sống thư nhàn, vốn ghét chuyện phiền nhiễu nên lại ngại ngùng không thuận. Đến khi đám môn sinh biết chuyện, hết lời vun vào, cả mẫu thân cũng khuyên nhủ, phu nhân mới bất đắc dĩ nhận lời”.

Trong thư ông không hứa hẹn với nữ sĩ một cuộc sống an nhàn, phú quý mà là cậy nhờ một sự đùm bọc bao dung, một trách nhiệm không hề dễ dàng. Phải hiểu biết đức hạnh, tài năng, tính tình, bản lĩnh nữ sĩ sâu sắc đến thế nào mới dám đem một gánh nặng gia đình “khủng khiếp” như thế đặt trước mặt đối phương khi vừa bị từ chối, nhất là “người ấy” vốn là một nữ sĩ vừa cứng cỏi tự do, cũng vừa đam mê sách vở. Nhưng ý nguyện của Nguyễn Kiều đã được chấp nhận, chiếc đàn dương cầm đã được mở. Cuộc hôn nhân của Tiến sĩ Nguyễn Kiều và nhà giáo Đoàn Thị Điểm quả là một cuộc hôn nhân hiếm có. Hai người đến với nhau không chỉ có niềm vui phu xướng phụ tuỳ, cầm thi xướng hoạ mà là một sự đồng lòng cùng nhau chia sẻ trách nhiệm. Cho nên trong cuộc sống gia đình dù có nhiều vất vả, nhưng vẫn rất hạnh phúc.

Đoàn Thị Điểm không chỉ là một người vợ giỏi, giữ đạo làm vợ, kính thuận phép tắc, không có điều gì sai sót mà còn là người bạn văn chương, người bạn có ích (“ích hữu”) vì biết tìm cách sửa chữa những khiếm khuyết của chồng, nhất là tính tự phụ, thiếu kinh nghiệm, thiếu kiến thức thực tiễn, nhưng lại không chịu lắng nghe. Bà từng phàn nàn riêng: "Phàm người tài danh tuổi trẻ đỗ cao, tài đức ắt xuất chúng, không ngờ học theo lối cử nghiệp, nhờ chương cú mà nổi tiếng, hàng ngày tụng đọc hàng nghìn lời mà chẳng quan hệ gì đến lý thể. Vị tiên sinh này không những không biết thơ đối với kinh luân cũng còn nhiều thiếu sót, mà còn cả đối với việc cột trụ của nước nhà” . Dù vậy, đối với ông, bà vẫn giữ phận làm vợ, không đem tư cách nữ sĩ mà tranh cạnh, chỉ bằng những buổi xướng hoạ, phẩm bình thơ văn đã khiến ông nhận ra, và về văn chương cũng âm thầm công nhận “mình còn thua kém vợ”, nhờ thế “trong khuê môn vui hoà, trọng nhau như khách”. Rất tiếc là cuộc sống hôn nhân của hai ông bà rất ngắn ngủi, chỉ được sáu năm, mà cũng chỉ được gần nhau có ba năm! Việc “ra đi” của bà cũng rất đột ngột, ở nơi xa gia đình, quê hương, con cháu không được quây quần và tang lễ, ông cũng không thể đích thân lo liệu. Lúc lâm chung, trước hết bà vẫn nghĩ về ông, nên đã tự sắp xếp trước mọi việc cho ông: 


“Bấy giờ, ngày 4 tháng Tám giữa thu đến trấn thì ngày 11 tháng Chín, phu nhân dậy trang điểm, phong thái ung dung như thường ngày, rồi bà sai thị nữ mời ông đến dặn dò hậu sự, nhân đó nói: 

- Chàng nên cố gắng việc vua, giữ lòng trung trinh của người bề tôi, khiến có thể bình yên về triều, tránh khỏi ở mãi nơi gió bụi này. 

Nói xong đến nhà chính nằm ngay ngắn rồi mất”.  

Đoàn Thị Điểm không những chỉ hiểu chồng mà bà còn thấy được cái tệ nạn của thói học cử nghiệp, thấy được những hiểm nguy rình rập chồng trong chốn quan trường để dặn dò. Bà mất, Nguyễn Kiều vô cùng đau đớn, xót thương. Lúc ấy ông vừa đến Nghệ An nhậm chức, không thể bỏ việc đưa linh cữu vợ về quê nên đã quàn ở trấn một tháng, sớm chiều cúng cơm cho vợ rồi mới chọn ngày làm lễ đưa xuống thuyền. Những niềm thương xót tiếc thương vợ, Nguyễn Kiều thổ lộ ở hai bài văn tế khi đưa linh cữu xuống thuyền và trong lễ mở cửa mộ. Hai bài văn tế vợ của ông có thể xếp vào loại hay nhất trong những bài “Điệu nội” (Khóc vợ) của văn học trung đại. Cùng thời, nhưng sau ông, có Ngô Thì Sĩ và Phạm Nguyễn Du, cả ba cuộc “sinh ly tử biệt” đều liên quan đến xứ Nghệ. Nguyễn Kiều đưa vợ đến Nghệ An, vợ mất, đành để linh cữu vợ trở về một mình, không thể đích thân đưa vợ đến nơi yên nghỉ; Ngô Thì Sĩ đi làm Đốc đồng Nghệ An, vợ mất ở Thăng Long, cũng không thể đích thân làm tang lễ cho vợ; riêng Phạm Nguyễn Du, đem vợ đến Thăng Long, vợ mất, ông đích thân đưa được vợ về quê, nhưng rồi phải trở lại Thăng Long một mình...

Con đường giữa Thăng Long và xứ Nghệ đối với ba ông đã thành con đường cách biệt đau thương và cả ba người đã bất đắc dĩ trở thành những tác giả viết hay nhất về nỗi niềm của những người chồng bất hạnh khóc vợ! Nhưng nếu danh sĩ họ Ngô và họ Phạm chỉ thuần khóc thương người vợ hiền thục đảm đang, hiểu biết thì Nguyễn Kiều còn khóc thương và nuối tiếc một người bạn tri âm tri kỷ, một nữ sĩ tài hoa, tinh hoa mà ông đã kiếm tìm, đã cùng chung sống những ngày hoà hợp, giữ gìn được gia phong của một danh gia, lại đã cùng chung nhã hứng văn chương, liên ngâm xướng hoạ để thành tập, thành quyển được lưu giữ trong gia đình Nguyễn Nghiễm. Cũng có thể nói Nguyễn Kiều là một người chồng “tân tiến”, không chỉ có tình yêu mà còn thấu hiểu, có tinh thần “tương kính” chân thành, không phải chỉ là hình thức kiểu “nâng án ngang mày”.

Trong những bài văn tế của ông còn có cả lời bình giá của một văn nhân với một văn nhân, thật trân trọng, chính xác, vô tình đã trở thành một văn bản xác nhận sự nghiệp văn chương của nữ sĩ. 


Trong bài văn tế đưa lĩnh cữu xuống thuyền ở Nghệ An ông viết:  
 
Ô hô! Hỡi nàng!
Huệ tốt, - Lan thơm.
Phong tư  lộng lẫy, - Cử chỉ đoan trang.
Nữ đức trọn vẹn, - Tài học ngõ ngàng.
Giáo mác, ấy bàn luận; - Gấm vóc ấy văn chương.
Nữ trung, rất hiếm có như Nàng!

Và trong bài văn tế trong lễ mở cửa mộ, ông viết:

“Bản tính yêu văn chương, trời phú bẩm từ bé. Thứ đùa chơi là sáo đàn; điều ưa thích là giấy chữ. Việc rửa mặt chải đầu, nhìn sắc mẹ nghiêm theo; cách tụng đọc đàn ca, lắng cha anh răn bảo. Sách nhẩm đọc mà thuộc làu, văn làm trộm mà độc đáo. Tóc mới cài trâm tài nữ đã nổi danh; tuổi đến trưởng thành, văn tứ càng tinh diệu. Vịnh thơ Ba chương tiếp bước Liễu Đình; học Nghĩ Tiểu sơn theo cách Từ Huệ. Tiếp ngòi bút tuyệt thế của Ban khanh; tranh hùng hồn lối văn của Tô nữ. Vung bút đề cảnh, vô hạn ý tình. Hoài cổ viết truyện, cảm động thần linh. Làm rõ tích cũ Chế Thắng, biểu dương người mới Liệt trinh; gửi dấu tiên ở Vân Cát thần nữ, thuật nhàn tình trong Đối thoại yến anh. Buông rèm dạy học, văn chương luận bình. Ôn tồn giảng dạy không mỏi, rèn đúc bao người tài anh. Phận khăn yếm mà nơi mũ lọng mãi lưu danh”. 

Ở một giai đoạn lịch sử mà người vợ chỉ có thề là “nội tướng”, “chủ quỹ”, bếp núc thì lời khóc của ông còn là lời bàn giao cho đời sau di sản văn chương của Đoàn Thị Điểm, có thể khiến cho tác phẩm của nữ sĩ tránh được cái cái hoạ không thể tìm ra “bản lai diện mục” như tác phẩm của Hồ Xuân Hương, không thể truy tìm như tác phẩm của một Nguyễn Thị Điểm cùng thời...
 
Nguyễn Kiều đối với triều chính là một vị quan thanh liêm, ngay thẳng, cần mẫn, một nhà ngoại giao hoàn thành tốt sứ mệnh “không làm nhục mệnh vua”, cũng tức là giữ được thể diện quốc gia; với xóm làng ông là người chu toàn việc chăm lo đời sống cả tinh thần và vật chất cho dân; ông cũng là người chủ gia tộc có trách nhiệm, đặc biệt là một người chồng độc đáo, chắc chắn cũng hiếm hoi trong chế độ phong kiến xưa. Riêng đối với văn chương, ông vừa là một nhà thơ lại vừa là mọt nhà bình điểm. Về thơ, ông đã để lại tập một thơ đi sứ mà theo nhận xét của Bùi Duy Tân là “hay, có phong cách. Có những bài, những câu diễm lệ, ý tứ có phần mới mẻ, giọng thơ tao nhã, tươi đẹp. Tất cả thường được thể hiện với niềm xúc động chân tình”.

Với những bài văn tế, không những ông thể hiện niềm xúc động chân tình, mà còn thể hiện là một nhà bình điểm công bằng, tinh tế, chính xác, chí tình, người đầu tiên có công lớn tìm ra và khẳng định “Nhất Điểm tinh hoa” nữ sĩ Đoàn Thị Điểm.  

 
Ô Đông Lầm - Hà Nội, ngày 29 - 10 - 2020 

PHỤ LỤC BÀI VIẾT

Văn tế đưa linh cữu xuống thuyền
 
Ô hô! Hỡi nàng!
 
          Huệ tốt, - Lan thơm.
 
          Phong tư  lộng lẫy, - Cử chỉ đoan trang.
 
          Nữ đức trọn vẹn, - Tài học ngõ ngàng.
 
          Giáo mác, ấy bàn luận; - Gấm vóc ấy văn chương.
 
          Nữ trung, rất hiếm có như Nàng!
 
                   Sao mà lại:
 
          Gia thất chậm hơn Mạnh Quang[1].
 
          Con cái hiếm hơn Trang Khương[2].
 
          Dứt tuổi Từ Phi[3],  Vùi tài Ban nương[4].
 
          Sao hóa cơ khó đoán, - Mà thiên mệnh phi thường lắm thay!
 
          Xưa được nghe tiếng Nàng. - Bèn kết thân hai họ.
 
          Nàng về nhà tôi, - Vẹn tròn đạo vợ.
 
          Việc bút nghiên tài lạ hằng chuyên; - Nghề kim chỉ tay sành chẳng bỏ.
 
          Thường thường đàm luận cổ thi, - Ngày ngày xướng thơ họa phú.
 
          Ba năm đi sứ Bắc, mày liễu buồn chau; - Năm ngựa trở về nhà,
 
          mặt hoa cười nở.
 
          Lúc rảnh việc cùng vui thú văn hàn; - Mới có chỉ sai trở vào xứ Nghệ.
 
          Non sông chẳng ngại đường dài, - Tần tảo quyết theo nội trợ.
 
          Đường sông nghìn dặm gian nan, - Doanh liễu, ba tuần tới đó.
 
          Một bệnh càng thêm, - Trăm phương khôn chữa.
 
            Đào chưa quả đã vội khô. - Quế đang thơm mà đã rũ!
 
          Rừng sâu bể rộng, Nàng hỡi đi đâu? - Ngọc nát, châu chìm,  lòng tôi quặn nhớ.
 
          Những muốn:
 
          Chèo thuyền lan mà sớm phát, - Đưa giá liễu để chóng về.
 
   Hẹn lại quê nhà an táng, - Dốc đem ý hậu theo đi.
 
  Nhưng:
 
  Nghĩa cùng thời, trái; - Việc chẳng lòng, tùy.
 
  Nửa bước khó dời trấn sở. - Một thân khó vẹn công tư.
 
   Lối về trên bến, - Tạm dựng bàn thờ.
 
    Lệ tiễn hai hàng chan chứa, - Tình thương một lễ đơn sơ.
 
            Sóng gió xin đừng kinh sợ, - Đường đi chớ ngại rù rờ.
 
          Hương hồn Nàng yên nghỉ. - Cố ấp, tôi hằng mơ.
 
          Thượng hưởng[5].  
 
VĂN TẾ LỄ MỞ CỬA MỘ[6] 

Hỡi ôi! Sao Bảo Vụ[7] sáng ngời, đất Văn Giang chung tú[8]. Nương tử tài hoa, hiếm gặp kim cổ! Cớ sao trời cho tài cao, lại bắt phận bạc; nổi tiếng tài danh, lại sẻn tuổi thọ?


Nhớ xưa, Nương tử sinh thời, dung nhan kiều mị. Áo quần không xa hoa, trang sức cũng giản dị. Xuất khẩu thành thơ mà uyên thâm tài trí. Thẳng thắn, không kiêu căng, với người như với mình, đều thế. Nhìn việc đời vô tâm, giúp người chẳng để ý. Phòng văn, dưỡng tính nhàn; bút mực tỏ tình chí. Bản tính yêu văn chương, trời phú bẩm từ bé. Thứ đùa chơi là sáo đàn; điều ưa thích là giấy chữ. Việc rửa mặt chải đầu, nhìn sắc mẹ nghiêm theo; cách tụng đọc đàn ca, lắng cha anh răn bảo. Sách nhẩm đọc mà thuộc làu, văn làm trộm mà độc đáo. Tóc mới cài trâm tài nữ đã nổi danh; tuổi đến trưởng thành, văn tứ càng tinh diệu. Vịnh thơ Ba chương tiếp bước Liễu Đình[9]; học Nghĩ Tiểu sơn theo cách Từ Huệ[10]. Tiếp ngòi bút tuyệt thế của Ban khanh[11]; tranh hùng hồn lối văn của Tô nữ[12]. Vung bút đề cảnh, vô hạn ý tình. Hoài cổ viết truyện, cảm động thần linh. Làm rõ tích cũ Chế Thắng, biểu dương người mới Liệt trinh; gửi dấu tiên ở Vân Cát thần nữ, thuật nhàn tình trong Đối thoại yến anh[13]. Buông rèm dạy học, văn chương luận bình. Ôn tồn giảng dạy không mỏi, rèn đúc bao người tài anh. Phận khăn yếm mà nơi mũ lọng mãi lưu danh. Con người tài điệu như thế, sao tiếng thơm một sớm vắng tanh? Nương tử sẽ soạn văn nơi địa phủ hay viết ký chốn vườn Quỳnh[14]?

Hỡi ôi, thương thay! Trí thức thâm hậu, không khoe mình tài; bức thêu rủ nhẹ, thoăn thoắt đôi tay! Chức Nữ chịu kém, đường kim vá may! Lô phục năm sắc, vải nhuộm không phai![15] Đêm xem thiên tượng, đoán biết phúc tai. Phương thuốc chữa bệnh, kiêm cả xưa nay. Đã biết rõ bí quyết bói dịch, lại tinh tường phép nhâm độn xem tay. Luật thông quốc ngữ, cung thương thanh hài; vị hòa điệu quý, khúc điệu khác bài[16]. Chu toàn rượu cơm đãi khách, tổ tiên dâng kính đủ đầy! Là gái dệt lụa khéo léo, thợ pha màu giỏi ai tày. Đã tài hoa đến thế, sao đi vội vàng thay! Vì chán cõi trần vất vả, hay cõi tiên nhàn muốn được về ngay?

Hỡi ôi, thương thay! Sinh đã ngẫu nhiên, cớ sao phúc mỏng! Từ nhỏ cha qua đời, thơ Lục nga[17] bi thương lệ nóng; tuổi lớn lại mất anh, bài Đường đệ[18] nối vần bỏ trống? Trăm việc nhà rối bời, một thân riêng lóng ngóng. Bỗng gày vóc liễu, tiều tụy xuân dung. Buồng khuê chờ mai mối, để duyên em muộn màng. Cầu hôn, kẻ sang quý bức bách; thoát thân[19], khổ tìm đường, long đong. Thân đơn vò võ, chiếc bóng dặm trường. Đông tới, Nam đi, nhờ cửa môn đệ. Lại gặp khi quê cũ điêu tàn, đành kiếm chốn tha hương nương tựa. Vu quy dù muộn, báo hỷ có thì; ta đón nàng về, vẹn tròn đạo vợ! Chuẩn bị hành trang, tiễn xe sứ Bắc hành; bấm đốt tính ngày, ngóng hướng Nam ngả rẽ. Ba năm như một sớm thoáng nhanh. Vui kính, ngày dở thư xem, đêm bàn văn lý. Ra đề thơ khó làm, đòi giảng chữ khó nghĩa. Đã vui vầy hòa điệu sắt cầm; vẫn chưa thấy mộng lành xà hủy[20]. Đã không cầu cạnh, đâu sợ việc Ô đài; không ngại đường xa, chẳng buồn chức Tham thị[21]. Bèn gói áo mà đi theo, chào mẫu thân mà rơi lệ. Thuyền gỗ bách lênh đênh, đường từ Thanh đến Nghệ. Trải ròng rã ba tuần, quân doanh vừa thẳng chỉ. Sóng lớn mới vượt qua, bệnh gió sương lại bị. Xe đã mừng về đến công đường, mà bệnh nàng gắng gượng, không thể! Than ôi, trời thẳm khó lường, nàng bằn bặt mơ màng mãi thế! Thuốc thang trăm cách cũng bằng không, rồi một sớm nàng đi lặng lẽ! 

Ôi! Người đẹp phải chịu như thế sao! Cảnh huyễn nghìn năm, đất vùi cây ngọc, sương lạnh hoa dung. Cảnh huyễn nghìn năm, hương hồn đêm thẳm, một trận thu phong! Nàng trăm thân, khôn chuộc; hận muôn thuở khôn cùng! Người đàn bà xuẩn ngốc ương ngạnh kia, sao được sống đầu bạc răng long; thế mà tài hoa tuyệt thế như nàng, lại phúc lộc mỏng cánh hồng! Nơi ở chẳng yên, con cái cũng không! Tuổi hơn ba mươi mới thành gia thất; tuổi hơn bốn mươi đã tiên giới ẩn tung. Đó chẳng phải là mệnh trời vô thường mà tạo vật bất công đó sao!  

Kẻ góa vợ này, than dài thở ngắn! Lệ nhỏ hai hàng, lòng sầu đau quặn. Việc nhà bề bộn, ai người quản cai; đức hạnh lỗi lầm, ai người can gián!Thơ muốn làm chừ cùng ai phẩm bình; sách muốn đọc chừ cùng ai bàn bạc! Có trăng thu chừ, cùng ai nhàn du; có cảnh xuân chừ cùng ai thưởng ngoạn!

Than ôi! Một lời vĩnh quyết chừ, đường chia đôi; thương sáu năm chừ duyên đứt đoạn. Ngày vui ngắn chừ, buồn sao nhiều; tài hơn người chừ mệnh sao ngắn! Cớ sao mấy bận đứt cung đàn; chịu khôn xiết nỗi nhà nhiều hoạn nạn! Lại than lúc cửa nhà tóc tang, mà riêng ta biên xa viễn hoạn! Linh cữu đưa về theo đường sông, chén tiễn tạm bày trên mé bến. Gạt lệ quay về, lòng sầu dằng dặc; tình tự khó thưa, bi thương vô hạn! Hộ tang đành giao phó gia đồng, đưa linh cữu nàng về quê quán. Phần mộ đã đắp điếm xong, cửa nhà cũng tạm yên ổn. Dâng lễ mọn để thần an, gửi lòng thành lưng rượu nhạt. Nàng có linh thiêng, xét soi chớ nản!

Thương thay! Thượng hưởng!  

(Trần Thị Băng Thanh dịch)  

[1] . Mạnh Quang: người đời Hán, vợ Lương Hồng, to khỏe, đen xấu mà rất đức độ. Bà kén chồng, đã lớn tuổi mới lấy Lương Hồng, cũng là người tài đức. Họ sống hòa thuận, kính nhau như khách.
 
[2] Trang Khương : con gái vua nước Tề, là vợ chính của vua nước Vệ, là em gái của đông cung thái tử nước Tề, là dì (hoặc chị em vợ) của vua nước Hình…, nàng rất đẹp, gia thế lẫy lừng, đám cưới lễ nghi đầy đủ, người đưa rước cũng đẹp đẽ. Trang Khương là nhân vật chính của bài Thạc nhân, Vệ phong, Kinh Thi, bài thơ nói nàng được yêu quý, nhưng sau không có con. 
 
[3] Từ Phi: tức Huệ Phi, xem Chú thích 10.
 
[4] Ban nương: tức Ban Cơ, xem chú thích 11.
 
[5] Trích từ Đoàn thị thực lục, Hoàng Xuân Hãn dịch.

[6] Nguyên văn là Tế ngu: lễ sau khi đã thành phần, chôn cất xong; có nơi gọi là tế ba ngày, hoặc lễ đặt bài vị, lễ mở cửa mộ.
 
[7] . Sao Bảo Vụ: là tòa thứ ba trong chòm Huyền Vũ, có 4 ngôi, thường chỉ nữ thần, cũng dùng mỹ xưng phụ nữ. Ở đây ông Nguyễn Kiều tôn xưng vợ mình.
 
[8]Giang Bắc: tức Văn Giang, quê hương Đoàn Thị Điểm, câu văn ý nói đất Văn Giang đã chung đúc nên người phụ nữ anh tú Đoàn Thị Điểm. 
 
[9] Ba chương… Liễu Đình: ba chương thường chỉ Kinh Thi; Liễu Đình: khi nói về văn chương cao khiết ẩn dật, thông thường hay dùng "Liễu" để nói về Đào Tiềm, như "Ngũ Liễu tiên sinh"... Ở đây chưa rõ nội dung điển cố
 
[10] Từ Huệ: Xem chú thích 10
 
[11] Ban Khanh: Xem chú thích 11
 
[12] Tô nữ: Xem Chú thích 12
 
[13] Nói về tên các tác phẩm của Đoàn Thị Điểm, xem chú thích 13
 
[14] Vườn Quỳnh: nguyên văn viết "Quỳnh Kinh", nghĩa là kinh đô Quỳnh, ý nói cõi tiên.
 
[15] Đoạn này có lẽ nói về việc Đoàn Thị Điểm may túi da la thêu 2 câu thơ Lý Bạch bằng cách chèn vải (xem Gia phả), nhưng có chữ "lô phục" chưa hiểu là nói về quần áo gì?
 
[16] Lời khen ở đoạn này chứng tỏ Đoàn Thị Điểm giỏi từ chương Nôm, điều đó cho phép liên hệ đến bản diễn âm Chinh phụ ngâm, chỉ tiếc Nguyễn Kiều không nói rõ tên tác phẩm. Đoàn Thị Điểm cũng còn một số tơ Nôm chép trong Hồng Hà phu nhân di văn.
 
[17] Lục nga:  bài thơ trong phần Tiểu nhã, Kinh Thi, bày tỏ lòng người con thương xót cha mẹ mà tự trách mình
 
[18] Đường đệ : bài thơ trong Tiểu nhã, Kinh Thi, nói về tình anh em thương yêu giúp đỡ nhau
 
[19] Thoát thân: nguyên viết vãn thân, theo văn cảnh và hành trạng, ngờ chữ thoát 脫 đã bị viết nhầm thành vãn 晚 tạm sửa lại.
 
[20] . Người xưa tin là người mẹ nằm mơ thấy rắn (xà, hủy) thì sinh con gái; nằm mơ thấy gấu (hùng, bi) thì sinh con trai.
 
[21] Ô đài tức tòa Ngự sử. Nguyễn Kiều từng làm chức Phó đô ngự sử, Tham thị: chức của Nguyễn Kiều khi đi Nghệ An. Một số tài liệu (Từ điển văn học, Bách khoa…) ghi Nguyễn Kiều làm chức Đốc đồng, có thể chức danh được ghi ở đây chính xác hơn, vì do chính Nguyễn Kiều viết. Câu này Nguyễn Kiều tự nói về tính cách ngay thẳng, liêm khiết và chuyên cần của mình.
 
Trần Thị Băng Thanh
CHIA SẺ ĐẾN BẠN BÈ: