HOTLINE: 0904 89 4444

Đoàn Thị Điểm (1705 - 1748): Thân thế và sự nghiệp
(Phương Nam Plus) - Trân trọng giới thiệu tham luận của Trần Thị Băng Thanh nhan đề Tiến sĩ Nguyễn Kiều - Người đi tìm "Nhất điểm tinh hoa" tại Toạ đàm "Danh nhân Nguyễn Kiều và Đoàn Thị Điểm với quê hương Phú Xá" tổ chức sáng 12/2/2020.
15:08 16-12-2020
 
Hồng Hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm (tranh minh họa). Nguồn: baotanglichsu.vn

Đoàn Thị Điểm có biệt hiệu là Hồng Hà nữ sĩ, con gái Đoàn Doãn Nghi, quê ở làng Hiến Phạm, tên Nôm là Làng Giữa, sau đổi thành Giai Phạm (đúng ra phải đọc là Khải Phạm), huyện Văn Giang, nay thuộc tỉnh Hưng Yên. Nữ sĩ vốn gốc họ Lê, đến đời thân phụ mới đổi sang họ Đoàn. Đoàn Doãn Nghi, hiệu là Dương Kinh có thể xem là người khai khoa cho dòng họ. Ông đỗ Hương cống, hỏng mấy khoa thi Hội, ban đầu được trao chức Điển bạ, (trong bia mộ chí ghi là hàm bát phẩm), nhưng sau chỉ dạy học và bốc thuốc. Đoàn Doãn Nghi trước đã có người vợ họ Nguyễn do bố mẹ cưới hỏi cho và đã sinh được hai con, trai là Đoàn Doãn Sĩ và gái là Đoàn Thị Quỳnh. Các tài liệu không nói kỹ về mối liên hệ giữa Doãn Nghi với người con trai cả, nhưng được biết sau Doãn Sĩ cũng đỗ Hương cống, và theo Bùi Hạnh Cẩn, từng làm Tri huyện ở châu Hoan. 

Trong thời gian trọ học ở Thăng Long, Đoàn Doãn Nghi yêu và cưới con gái một vị quan võ họ Vũ, tước Thái Lĩnh bá, quê ở làng Vũ Điện, huyện Nam Xang, nay là huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Bà cũng sinh được hai con, trai là Đoàn Doãn Luân, gái là Đoàn Thị Điểm. Cả hai anh em đều là bậc tài hoa, nổi danh trong làng Nho. Doãn Luân đã đỗ đầu khoa thi Hương nhưng không theo đuổi con đường quan chức mà chỉ ở nhà dạy học. Doãn Luân là một người giàu tình cảm và thủy chung. Khi còn ít tuổi được cha mẹ cho đính ước với con gái Tiến sĩ  Lê Hữu Hỷ (Hoàng Xuân Hãn nói là Lê Hữu Mưu, em trai Lê Hữu Hỷ), người huyện Đường Hào (nay là Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên). Chưa kịp nghênh hôn thì cô gái bị bệnh đậu mùa, thành tật, mặt rỗ hoa, chân tay lóng ngóng. Nhà gái mấy lần xin hủy bỏ việc đính ước, nhưng Đoàn Doãn Luân không nghe, một mực khẳng định: “Tình thủy chung chồng vợ là đầu mối đạo người quân tử, xấu đẹp tùy thuộc vào nhân duyên trước, không thể câu nệ vào hình hài mà để lỡ dở. Huống nữa việc đôi lứa của con đã ước hẹn thì tuy câm điếc ngọng ngây cũng không kể gì”. Đó là tình cảm cao đẹp của gia đình họ Đoàn, song Đoàn Thị Điểm cũng vì vậy mà gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống riêng. 

Đoàn Doãn Nghi vốn tính tình phóng khoáng, không thành đạt trên đường khoa danh cũng chẳng bận tâm nhiều, ông dạy học ở nhiều nơi, sau chuyển về thôn Lạc Viên, huyện An Dương (nay thuộc nội thành Hải Phòng) dạy học. Học trò của ông ở Lạc Viên đông, cũng có một số người đỗ đạt, như Hương cống Trần Minh Giám và nhiều người khác, còn được lưu tên trong tấm bia về ông dựng ở quê nhà. Đoàn Thị Điểm lúc nhỏ được học với cha, và thường cùng anh rèn tập sách vở. Có lẽ đây là những năm tháng đẹp nhất trong cuộc đời nữ sĩ.

Việc thử tài đọ sức, tình anh em hòa thuận thân ái, tri âm tri kỷ giữa nữ sĩ cùng anh đã thành những giai thoại văn học đặc sắc, tươi tắn và để lại những đôi câu đối độc đáo, khó tìm trong văn chương nước nhà. (Phải chăng điều đó lý giải tâm trạng cô đơn thống thiết đã được nữ sĩ thổ lộ một cách sâu sắc và thiết tha đến thế trong bài văn tế khi anh qua đời?) Tuy nhiên khoảng thời gian vui vẻ ấy không được lâu, năm 16 tuổi (1720), Đoàn Thị Điểm đã được Thượng thư Lê Anh Tuấn nhận làm con nuôi, đưa về Thăng Long.

Theo Đoàn Thị thực lục, Đoàn Doãn Nghi có một thời gian tới tập văn bài với Lê Anh Tuấn, hẳn vì sự quen biết ấy hoặc quan hệ dây mơ rễ má về tộc họ (họ Lê) mà Đoàn Thị Điểm được quan Thượng thư quan tâm muốn tác thành cho? Các tài liệu đều nói thấy con gái nuôi thông minh lỗi lạc, vị Thượng thư có ý định dạy dỗ những điều cần thiết để đưa tiến cung. Đối với đương thời điều đó là một vinh dự, nhưng nữ sĩ không thuận, lại xin về, theo anh đến nơi cha dạy học là Lạc Viên. Năm 1729 cha mất, anh em Doãn Luân cùng học trò đưa linh cữu cha về quê làm lễ tang, dựng nhà thờ và dựng bia cho cha. Sau đám tang, Đoàn Doãn Luân đưa gia đình về làng Vô Ngại, huyện Đường Hào (nay là Mỹ Hào, tỉnh Hưng yên) mở trường dạy học. Cuộc sống mới tạm ổn định được một thời gian ngắn ngủi thì khoảng năm 1733, Đoàn Doãn Luân lại qua đời, để lại mẹ già, vợ đau yếu và hai con còn nhỏ dại.

Gánh nặng gia đình dồn lên vai một mình nữ sĩ, lúc này bà đã gần 30 tuổi. Đoàn Thị Điểm vừa lo phụng dưỡng mẹ già, nuôi dạy hai cháu nhỏ nhưng quan trọng hơn là phải lo cuộc sống cho cả gia đình. Do vậy nữ sĩ vừa phải soạn thảo văn chương thay người, vừa dạy học và làm thuốc chữa bệnh để lo việc rau cháo, nhưng cũng chính vì thế tiếng tăm của bà càng nổi, người ngưỡng mộ càng đông và cũng có thể trong hoàn cảnh ấy nữ sĩ không còn tâm trạng nghĩ đến cuộc sống riêng tư của mình nữa. 
 
Nhưng rồi Vô Ngại cũng không thể ở được. Khoảng giữa thế kỷ XVIII, những cuộc nổi dậy của nông dân xảy ra khiến vùng Hải Đông không còn cảnh yên bình, nhiều làng xóm bị binh lửa tàn phá, Đoàn Thị Điểm lại phải đưa cả gia đình tới nhà một người học trò tại xã Chương Dương, huyện Thượng Phúc (nay thuộc Thường Tín, Hà Nội) để lánh nạn và sinh sống.

Theo Hoàng Xuân Hãn lúc này bà mới chính thức mở trường dạy học, trong đám học trò có Đào Duy Doãn  quê ngay xã Chương Dương, lúc học với nữ sĩ khoảng mười tuổi, sau đỗ Tiến sĩ.


Đoàn Thị Điểm nổi tiếng về tài văn thơ, đối đáp. Xung quanh bà có nhiều giai thoại khẳng định tài năng của bà áp đảo các bậc anh tuấn trong giới nho sinh kẻ sĩ. Cũng có nhiều câu đối được ghi là của bà trong các cuộc đối đáp với Trạng Quỳnh, sứ Tàu, Nhữ Đình Toản... Những chuyện ấy dù có bao nhiêu phần trăm sự thật thì cũng chứng tỏ lòng ngưỡng mộ của thế nhân đối với bà. Đoàn Thị Điểm là một người con gái có bản lĩnh, một “gia trưởng” hoàn hảo, một nữ sĩ tài hoa, gồm đủ công dung ngôn hạnh nhưng cũng ngầm mang ít nhiều tính cách trượng phu có tầm cỡ về tư tưởng và dám "phá cách".

Câu chuyện về ba chiếc túi bằng vải Da la thêu hình “tam hữu” (tùng trúc mai), hình “bát quái” của Kinh Dịch và đặc biệt là câu thơ Lý Bạch nữ sĩ vẫn mang theo bên mình đã chứng tỏ điều đó. Thế nhưng có thể chính vì sự hoàn hảo và xuất chúng đó mà đường tình duyên của nữ sĩ lại muộn màng. Không phải bà thiếu các bậc tài danh ngấp nghé, nhưng dường như cảnh nhà cũng làm bà lỡ làng năm tháng. Vào tuổi thanh xuân, tuy ở trong cửa nhà quyền quý nhưng con đường gia thất lại chỉ có thể hướng tới cung nhà chúa, với cái cảnh “chiếc én ba nghìn” biết chen cành nào trên cây cù mộc? Bản lĩnh và tâm hồn nữ sĩ khiến bà không thể chấp nhận sự sắp đặt ấy. Sau này về gần Kinh thành, với hoàn cảnh đơn hàn, bà càng được nhiều người để ý. Cũng có các vị có danh vọng trong hàng quan chức nhờ người mai mối, nhưng nói như Hoàng Xuân Hãn chỉ là “để cầu làm lẽ hoặc làm kế”.

Đoàn Thị Điểm vốn là một bản lĩnh cứng cỏi và một tâm hồn phong phú đương nhiên không thể chấp nhận những cuộc hôn nhân đầy tính gán ghép như thế. Nữ sĩ đã liệu lời từ chối tất cả và lẩn tránh được cả cuộc hỏi vợ theo cách “bắt cóc” của một người họ ngoại trong phủ chúa. Và đến thời gian này nữ sĩ đã không còn để tâm đến chuyện hôn nhân, chấp nhận cuộc sống cô đơn để toàn tâm toàn ý phụng dưỡng mẹ già, nuôi dạy các cháu. Nhưng rồi Nguyễn Kiều lại đến, năm ấy nữ sĩ đã 37 tuổi. Tiến sĩ Nguyễn Kiều góa vợ, nhưng ông là người nổi tiếng hay chữ. Cầu hôn bà, Nguyễn Kiều còn viện đến cả mối quan hệ chị em giữa bà với người vợ trước của ông (Lê Thị Hằng, con gái Lê Anh Tuấn), đến cả gia cảnh khó khăn của ông, khi ngày lên đường đi sứ đã gần mà các con còn nhỏ thiếu người chăm sóc! Vì thương ông góa bụa, vì trọng nhân cách và tài năng của ông, hay vì cảm mối chân tình của ông... (?), cuối cùng Đoàn Thị Điểm đã nhận lời.

Cuộc hôn nhân với Nguyễn Kiều đem lại cho nữ sĩ những ngày hạnh phúc, vợ chồng ý hợp tâm đầu, thương yêu đằm thắm. Bà thường cùng ông xướng họa và nhiều lúc còn có ý khuyến khích khuyên răn khi thấy ông tỏ ra “hiếu thắng” và tự thị... Nhưng hạnh phúc lứa đôi thật ngắn ngủi, cưới xong chưa đầy một tháng, Nguyễn Kiều phải đi sứ Trung Quốc, nữ sĩ lại “một thân nuôi già dạy trẻ” suốt ba năm ròng với biết bao mối quan hoài!

Năm 1745 Nguyễn Kiều mới về nước, song chỉ chưa đầy ba năm sau, 1748, ông lại được cử làm Tham thị ở Nghệ An. Trên đường đi cùng chồng đến nhiệm sở, Đoàn Thị Điểm bị cảm nặng, chạy chữa không khỏi, cuối cùng mất ở Nghệ An ngày 11 tháng Chín âm lịch (1/11/1748). 


Nguyễn Kiều có lẽ là người đã đáp lại được niềm khắc khoải mà vô tình nữ sĩ thổ lộ trong bài Văn tế anh "người thương em là ai?", và ông cũng là người hiểu đúng nhất về người vợ đoan trang, tài hoa mà "thiên mệnh phi thường”, khiến ông sau này luôn “quặn nhớ”:
 
      Ô hô! Hỡi nàng!
      Huệ tốt - lan thơm.
       Phong tư lộng lẫy, - Cử chỉ đoan trang.
       Nữ đức trọn vẹn, - Tài học ngõ ngàng.
       Giáo mác, ấy bàn luận; - Gấm vóc, ấy văn chương.
       Nữ trung, rất hiếm có như nàng!
       Văn tế khi đưa linh cữu xuống thuyền         
(Hoàng Xuân Hãn dịch)

Đoàn Thị Điểm là một tác gia có bút pháp đa dạng, vừa giỏi văn thơ chữ Hán lại cũng vừa giỏi thơ Nôm. Bà sáng tác nhiều nhưng tản mát phần lớn; trải qua nhiều tìm tòi, tranh cãi, hiện học giới tương đối nhất trí coi ba tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc diễn âm, Truyền kỳ tân phả và Hồng Hà phu nhân di văn là phần di cảo bà "để lại" cho văn học nước nhà, dẫu rằng về mặt văn bản vẫn còn những nan đề phải giải. Tuy nhiên chúng tôi nghĩ rằng ít nhất cũng có những điều đã có thể "chốt" lại. Trước hết, nữ sĩ là người đầu tiên dịch tác phẩm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn viết bằng chữ Hán phần nhiều quen thuộc với độc giả trí thức nho sĩ ra tiếng Việt và bằng một thể loại văn học dân tộc, đem lại cho tác phẩm một đời sống văn chương sôi động, tạo nên một hiệu ứng trong văn học dịch "Nhiều người gọt giũa diễn ra quốc âm" (Phan Huy Ích), thu hút rất nhiều tầng lớp người thưởng thức. Bản dịch của nữ sĩ đã đưa thể song thất lục bát sang một chặng đường mới, như tạo đà khiến thể loại đạt tới đỉnh cao với Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, bản dịch của Phan Huy Ích vài chục năm sau và cả "bản dịch hiện hành".

Về Truyền kỳ tân phả nữ sĩ cũng tìm cho thể loại ngoại nhập này một hướng đi thích hợp với sự quan tâm của văn học Việt Nam - truyện truyền kỳ không chỉ là văn chơi, thậm chí cấm kị mà còn gánh lấy trách nhiệm "giúp ích cho đời" ("bổ thế"), nói lên sự thực, nói lên ước vọng về những vấn đề lớn lao của nhân sinh, nó như một phần bổ khuyết cho những điều mà chính sử không làm được. Với Truyền kỳ tân phả, Đoàn Thị Điểm đã để lại ba hình mẫu liệt nữ: một người vì nghĩa cương thường, một người vì triều đại - đất nước, và một người (theo Olga Dror) vì sự công bằng, quyền sống, quyền tự chủ của nữ giới. Những kế sách trị nước an dân bà đặt ra trong Kê minh thập sách, những ước vọng về nữ quyền đặt ra trong Vân Cát thần nữ không phải chỉ cấp bách đối với riêng thời đại bà mà còn rất thời sự đối với cả thời hiện đại. Không phải vô cớ mà nhân dân bao đời đã suy tôn bà phi Bích Châu và chúa Liễu Hạnh thành thánh, thánh mẫu chỉ dẫn che chở cho dân Việt, riêng Liễu Hạnh còn là một trong "tứ bất tử" của thế giới thần linh Việt. Cũng không ngẫu nhiên mà các tác giả truyện truyền kỳ sau Đoàn Thị Điểm đã đi theo con đường của nữ sĩ mà không tiếp tục con đường của bậc thày thể loại là Nguyễn Dữ. Chắc chắn có nhiều lý do, từ quan điểm tư tưởng, xu hướng thẩm mỹ, hoàn cảnh lịch sử đến những điều kiện cá nhân, nhưng dù sao đó là sự lựa chọn của văn học đương thời.

Ngày nay chúng ta rất tiếc đôi cánh lãng mạn bay bổng của truyền kỳ Nguyễn Dữ, nhưng không thể không ghi nhận những đóng góp lớn lao, đáp ứng nhu cầu thời đại, về tầm tư tưởng cũng như những đặc sắc về nghệ thuật mà Đoàn Thị Điểm đã gửi gắm, đạt được và "để lại" trong trước tác của mình.

Quả là nếu Truyền kỳ tân phả có yếu đi chất thơ mộng thì tác phẩm lại bổ sung cho thể loại được chất hùng ca, nghị luận thật sắc bén như "giáo mác", cần thiết khi phải phân định cái thiện và cái ác, việc trái và việc phải. Hơn thế ngay cả "chỗ yếu" của tác phẩm cũng không phải không có những tình tiết, chương đoạn mà chất lãng mạn, trữ tình đạt đến cao trào, đôi khi mạnh mẽ hơn cả một vài trường hợp được Nguyễn Dữ thực hiện, ví như bài thơ về đêm tân hôn trong Bích Câu kỳ ngộ, hoặc sự "nổi loạn" của chúa Liễu Hạnh… Truyền kỳ tân phả cũng còn được coi là số lượng thơ xen vào quá nhiều khiến cho kết cấu truyện thiếu chặt chẽ, diễn tiến truyện lỏng lẻo… Nhưng đấy là chúng ta đứng trên chuẩn thẩm mỹ về tiểu thuyết hiện đại để khen chê, còn nếu nghĩ rằng người xưa quan niệm truyền kỳ là thể loại "truyện thơ văn" thì sẽ thấy thơ có một vai trò rất quan trọng trong tác phẩm.

Có những điều "không dễ nói" có thể thổ lộ bằng thơ, bóng gió và tha thiết với nhiều dư âm và khoảng trống cho sự liên tưởng. Người xưa đọc truyện rung cảm theo những tình tiết được kể bằng "văn xuôi" nhưng cũng rung cảm không kém khi đọc những áng thơ, biền văn các loại, thể hiện tâm trạng nhân vật và sự đồng cảm của tác giả… Một điểm đặc biệt nữa là mối quan hệ mật thiết giữa Truyền kỳ tân phả với văn học và tín ngưỡng dân gian. Các nhà nghiên cứu đều nói văn học dân gian là một nguồn quan trọng đối với truyện truyền kỳ, nhưng mật thiết đến khó phân biệt đâu là tác phẩm gốc, như giữa các truyện Vân Cát thần nữ, An Ấp liệt nữ, Đền thiêng ở Hải khẩu và các thần tích về mẫu Liễu Hạnh, mẫu Kỳ Anh, phu nhân Phan Thị Viên, là một điều hết sức độc đáo đến thành một hiện tượng hiếm hoi trong văn học Việt Nam.

Ngoài ra, những tác phẩm được sưu tập trong Hồng Hà phu nhân di văn, tuy không chính quy như các tác phẩm trên nhưng cũng đủ cho người đọc thấy một vùng quê thuần phong mỹ tục, nề nếp quy củ, văn minh và nhân văn. Thấp thoáng đây đó, trong những lời thù tạc, nữ sĩ cũng thể hiện ý tứ phê phán, khuyên răn đối với những thói hư tật xấu của giới kẻ sĩ, của giới cầm quyền và của người dân nơi xóm làng. Quả thật ước nguyện của bà phi Bích Châu “nước được thịnh dân được yên” cũng chính là ước nguyện của nữ sĩ vậy.


Đoàn Thị Điểm là một nhà giáo, một nữ tác gia văn học có tư tưởng, có tầm nhìn rộng lớn và có chính kiến. Riêng đối với vấn đề nữ quyền, bà không chỉ dừng lại ở chuyện “xót thương thân phận”, mà đã vươn xa hơn thế giới buồng the khue khổn để “đòi” cho người phụ nữ cái quyền tự quyết, quyền sống của con người như mọi người.

Thời trung đại, chưa thấy một nữ tác gia nào đạt được thành tựu trước tác như nữ sĩ. Đúng như lời Nguyễn Kiều tôn vinh một cách khiêm nhường về vợ mình: Tài học ngõ ngàng. Giáo mác, ấy bàn luận; - Gấm vóc, ấy văn chương. Nữ trung, rất hiếm có như nàng! Có thể cũng không chỉ trong giới nữ lưu mà nhiều bậc nam tử không phải ai cũng vượt qua được “Hồng Hà phu nhân”. Nữ sĩ xứng đáng được có một vị trí trang trọng hơn nhiều trong lịch sử văn học và lâu đài văn hóa dân tộc. Và dường như điều đó, học giới Việt Nam ngày nay “còn nợ” nữ sĩ. 

----------------

6. Theo Đoàn thị thực lục và một số tài liệu khác thì họ gốc của bà Điểm trước khi đổi sang họ Lê là họ Đoàn. Tổ 5 đời của Đoàn Thị Điểm là quan võ, có công với nhà Lê được ban Quốc tính tên là Lê Công Nẫm - là con của Đoàn Công Bẩm, hậu duệ mãnh tướng Đoàn Công Uẩn, chứ không phải ông Doãn Nghi tự nhiên đổi từ họ Lê (vốn đang là họ của Thiên tử) sang họ Đoàn (ở thời phong kiến mang họ của nhà vua là điều vinh dự). Về lý do Doãn Nghi lấy lại họ cũ được cho rằng vì ông được báo mộng.

7. Xin xem tác phẩm ở phần sau.


8. Bùi Hạnh Cẩn thì cho rằng Đoàn Thị Điểm dời nhà cha nuôi Lê Anh Tuấn trong dịp về chịu tang cha ruột. Nhưng đọc những ghi chép của Đoàn thị thực lục thì có phần chắc bà đã xin được về từ trước đó. (Xem thêm Hành trạng Hồng Hà nữ sĩ ở phần Phụ lục của sách).

9. Đào Duy Doãn (1726_?): Người xã Chương Dương, huyện Thượng Phúc, nay thuộc huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội. Ông đỗ Tiến sĩ  khoa Canh Thìn, niên hiệu Cảnh Hưng 21 (1760) đời Lê Hiển Tông, làm quan đến Hiến sát sứ; lúc thi đỗ 35 tuổi (theo Các nhà khoa bảng Việt Nam).

10. Gần đây ông Nguyễn Trác Cách, hậu duệ của Hoàng giáp khoa Tân Sửu (1721) Nguyễn Trác Luân, người Bình Lao, huyện Cẩm Giàng, Hải Dương, làm quan đến chức Phó Đô ngự sử, nêu ý kiến những giai thoại đó là nói về bà Nguyễn Thị Điểm, em Hoàng giáp Nguyễn Trác Luân. Ý kiến phân tích của ông có những điểm hợp lý, ví như bà Điểm khó có điều kiện để đón tiếp sứ Tầu và bạn bè với Trạng Quỳnh…, tuy vậy việc bà dịch Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn và viết Truyền kỳ tân phả thì bằng những tư liệu hiện có đã có thể khẳng định được. Giá như chứng minh có thêm được nữ sĩ Nguyễn Thị Điểm thì cũng là điều rất đáng mừng cho văn học Việt Nam và giới nữ sĩ. Có điều thực hiện được việc này chắc còn nhiều nan đề phải giải quyết.

11. Nguyên câu thơ như sau: Tiện sử chủ nhân năng tuý khách / Bất tri hà xứ thị tha hương, nghĩa là: Dễ khiến chủ nhân say dạ khách/ Chẳng biết nơi nao là quê người.                                                                            
 
Trần Thị Băng Thanh
CHIA SẺ ĐẾN BẠN BÈ: