HOTLINE: 0904 89 4444

Yếu tố văn hóa trong chính sách đối ngoại của Việt Nam
(Phương Nam Plus) - Từ những khái niệm về văn hóa và ngoại giao ở trên, có thể thấy rằng giữa văn hóa và ngoại giao có sự tương tác qua lại và gắn kết chặt chẽ, bổ trợ cho nhau.
15:20 14-03-2021
Trong những năm qua, đặc biệt từ khi đổi mới, hoạt động đối ngoại của Việt Nam đã bám sát và phục vụ tốt chủ trương “tiếp tục giữ vững môi trường hòa bình và tạo điều kiện quốc tế thuận lợi hơn nữa để đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, bảo đảm độc lập và chủ quyền quốc gia, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”.
 
 
Cùng với phương châm đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế, làm sống động và thực chất hơn quan hệ giữa Việt Nam với các nước, các tổ chức khu vực và quốc tế, hoạt động đối ngoại đã được triển khai chủ động, tích cực, quy mô lớn, hình thức phong phú và đa dạng hơn.

Sự đa dạng hóa các lực lượng làm công tác đối ngoại và loại hình hoạt động đối ngoại đã làm bức tranh đối ngoại của Việt Nam trong những thập kỷ cuối của TK XX và những năm đầu của TK XXI trở nên sinh động, phong phú, đồng thời góp phần khẳng định thế trận đối ngoại toàn diện, liên hoàn, gắn kết và phối hợp tác chiến chặt chẽ, nhịp nhàng, nhuần nhuyễn. Trong thế trận đó, yếu tố văn hóa ngày càng được đề cao và được coi trọng, góp phần phát huy sức mạnh tổng hợp của nền ngoại giao toàn diện Việt Nam, khẳng định vai trò nòng cốt của văn hóa trong hoạch định đường lối chính sách đối ngoại và hình thành phương pháp, phong cách ngoại giao Việt Nam.
 
Cho đến nay, về khái niệm văn hóa, chúng ta được tiếp cận với nhiều định nghĩa khác nhau. Văn hóa đã có mặt ở khắp mọi nơi, thâm nhập mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và thực sự trở thành một nhu cầu cấp thiết gắn liền với cuộc sống mỗi người, mỗi dân tộc và cả loài người. Và cũng trong một số khái niệm lần đầu tiên văn hóa được đặt đúng vị trí trong mối quan hệ với kinh tế, chính trị, xã hội...
 
Khi bàn đến lĩnh vực ngoại giao, chúng ta cũng tiếp nhận nhiều khái niệm. Theo từ điển Oxford 1965: “Ngoại giao là việc tiến hành những quan hệ quốc tế bằng cách đàm phán, đó là công tác, nghệ thuật của các nhà ngoại giao”. E.Stow lại cho rằng “ngoại giao là sự sắp đặt trí tuệ và lịch thiệp vào việc tiến hành những quan hệ chính thức giữa các chính phủ”. Từ điển tiếng Việt năm 1996 lại định nghĩa: “Ngoại giao là sự giao thiệp với nước ngoài để bảo vệ quyền lợi của quốc gia mình và góp phần giải quyết những vấn đề quốc tế chung”. Chúng ta thấy trong mỗi định nghĩa đều cố gắng làm nổi bật những khía cạnh mà định nghĩa đó coi là chủ yếu và quan trọng nhất của khái niệm, tuy nhiên tất cả đều chỉ ra ngoại giao là công việc để thực hiện những nhiệm vụ chính trị đối ngoại của các quốc gia, là công cụ chính sách đối ngoại, là nghệ thuật tiến hành đàm phán và ký kết giữa các quốc gia. Tóm lại ngoại giao là một khoa học mang tính tổng hợp của chính trị, xã hội; là nghệ thuật của những khả năng; là hoạt động của các cơ quan đối ngoại nhằm thực hiện chính sách đối ngoại của nhà nước nhằm bảo vệ quyền lợi, lợi ích, quyền hạn của quốc gia, dân tộc trong nước và thế giới; từ đó góp phần giải quyết những vấn đề chung bằng con đường đàm phán và các hình thức hòa bình.
 
Từ những khái niệm về văn hóa và ngoại giao ở trên, có thể thấy rằng giữa văn hóa và ngoại giao có sự tương tác qua lại và gắn kết chặt chẽ, bổ trợ cho nhau.
 
Ngay từ thời các vua Hùng dựng nước và trong suốt lịch sử mấy ngàn năm văn hiến, đấu tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ, những hoạt động ngoại giao đã được các triều đại Việt Nam sử dụng một cách vô cùng tinh tế và khéo léo, thể hiện bản sắc dân tộc, tôn vinh những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự lực, tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống. Nguyễn Trãi - vị quân sư lỗi lạc với chủ trương ngoại giao công tâm, thấm đậm tình nhân ái, khoan dung “lấy đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo” đã góp phần quan trọng trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, giúp Lê Lợi đánh đuổi giặc Minh, lập ra triều hậu Lê kéo dài 360 năm (1428-1788).
 
Phát huy truyền thống của tổ tiên, trong suốt chiều dài cuộc kháng chiến vì độc lập, thống nhất tổ quốc, bên cạnh mặt trận quân sự, mặt trận ngoại giao đã được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm. Hình ảnh một Việt Nam bền gan, ngoan cường nhưng đầy nhân ái, vị tha được khắc họa rõ nét trong lòng bạn bè và nhân dân thế giới. Những truyền thống và giá trị văn hóa kết tinh qua hàng ngàn năm văn hiến của Việt Nam đã được thể hiện khéo léo trên bàn đàm phán và ngay cả trong công tác địch vận. Có thể khẳng định rằng công tác đối ngoại trong thời kỳ này đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao phó. Đó là thời kỳ mà Việt Nam là tâm điểm chú ý của dư luận quốc tế và của nhân dân tiến bộ yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới. Giai đoạn từ 1975 đến 1986 là giai đoạn khó khăn của nước ta. Những nỗ lực vượt bậc của cả nước trong giai đoạn này, trong đó có văn hóa đối ngoại, mặc dù đã gặt hái được nhiều kết quả tích cực trong khối các nước xã hội chủ nghĩa, nhưng không đủ để phá vỡ thế bao vây, cấm vận của các thế lực thù địch, cũng không đủ làm cho các chính phủ và nhân dân thế giới, kể cả một số nước có cùng hệ tư tưởng chính trị, hiểu đúng về chúng ta, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, về chính sách đối ngoại của ta để từ đó tạo sự đồng tình và ủng hộ chúng ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
 
Từ năm 1986 đến nay, dưới ánh sáng của đường lối đổi mới của Đảng, hoạt động ngoại giao đã có những bước chuyển biến tích cực. Cùng với phương châm đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế, làm sống động và thực chất hơn quan hệ giữa Việt Nam với các nước, các tổ chức khu vực và quốc tế, hoạt động ngoại giao đã chủ động, tích cực, quy mô lớn hơn, hình thức phong phú và đa dạng hơn.
 
Rõ ràng văn hóa và ngoại giao có mối quan hệ tương tác qua lại và hỗ trợ lẫn nhau. Nhân tố văn hóa trong hoạt động ngoại giao thể hiện ở quan điểm đường lối đối ngoại, phương pháp và phong cách ngoại giao. Bằng việc hiểu rõ nguồn gốc sức mạnh của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, cha ông ta đã xây dựng một đường lối ngoại giao tự chủ, bình đẳng và tự tôn dân tộc, chủ động tiếp thu những nhân tố tích cực của bè bạn. Từ đó tránh những quan điểm sai lầm trong đường lối ngoại giao là tự ti hoặc bài ngoại.
 
Có thể nói, các giá trị văn hóa là chỗ dựa tinh thần bền vững cho hoạt động đối ngoại, làm áp lực với các đối tác để thực hiện có kết quả cao các chính sách chính trị, kinh tế và văn hóa quốc gia. Trải qua những thăng trầm của lịch sử, văn hóa đã khẳng định vị trí then chốt, đóng vai trò quyết định đối với sự hưng thịnh hoặc suy vong của một đất nước. Trong thời đại ngày nay, văn hóa ngày càng khẳng định vai trò cầu nối gắn kết các dân tộc trên thế giới, là mục tiêu và động lực phát triển, là nền tảng gìn giữ và bảo vệ hòa bình, là nhân tố để thúc đẩy các lĩnh vực khác cùng phát triển. Và trên thế giới chỉ có một số ít các nước bằng bản sắc văn hóa của mình đã tạo ra một sức mạnh trong mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội với các nước trong khu vực.
 
Qua thực tiễn chúng ta cũng có thể nhận biết được vai trò của nhân tố văn hóa trong ngoại giao qua các hoạt động ngoại giao văn hóa và đường lối văn hóa đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta.
 
Văn hóa đối ngoại được hiểu là tổng hợp các hoạt động mà một quốc gia sử dụng, trong đó yếu tố văn hóa là nòng cốt, nhằm đạt được những mục tiêu cơ bản của chính sách đối ngoại, tạo hình ảnh tốt đẹp về đất nước, quảng bá văn hóa và ngôn ngữ của mình trên thế giới, tạo nền tảng nhằm thiết lập, phát triển và duy trì quan hệ với các quốc gia khác, thông qua văn hóa, nghệ thuật và giáo dục; là việc thực hiện chính sách đối ngoại để đạt mục tiêu chính trị bằng công cụ văn hóa, biện pháp văn hóa, trong đó, các giá trị văn hóa sẽ là chỗ dựa tinh thần bền vững cho hoạt động đối ngoại, làm áp lực với các đối tác để thực hiện có kết quả cao các chính sách chính trị, kinh tế và văn hóa quốc gia. Nói một cách khái quát, văn hóa đối ngoại là tổng thể các hoạt động đối ngoại vì văn hóa và bằng văn hóa, và là sản phẩm chung của chính sách văn hóa và chính sách ngoại giao. Văn hóa đối ngoại cũng là một quá trình hoạt động đối ngoại chủ động, trong đó, các thiết chế, hệ giá trị và bản sắc văn hóa độc đáo của dân tộc được quảng bá ở cấp độ song phương và đa phương.
 
Trong xu thế hòa bình, hợp tác cùng phát triển của một thế giới toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, văn hóa đối ngoại được xác định là một trong những phương cách góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, quảng bá hình ảnh đất nước, phục vụ tích cực cho phát triển kinh tế xã hội và nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế.
 
Có thể hiểu ngoại giao văn hóa là việc sử dụng các giá trị văn hóa, hình thức văn hóa, lợi thế văn hóa để thúc đẩy quan hệ với các quốc gia khác; đồng thời, sử dụng nội dung ngoại giao, quan hệ ngoại giao để tôn vinh giá trị văn hóa dân tộc; giao lưu, trao đổi để các quốc gia, các dân tộc ngày càng hiểu biết và tôn trọng các giá trị văn hóa và bản sắc của nhau. Các hoạt động ngoại giao văn hóa trong thời gian qua đã tạo hình ảnh tốt đẹp về đất nước, quảng bá văn hóa và ngôn ngữ của mình trên thế giới, tạo nền tảng nhằm thiết lập, phát triển và duy trì quan hệ với các quốc gia khác, thông qua văn hóa, nghệ thuật và giáo dục; là việc thực hiện chính sách đối ngoại để đạt mục tiêu chính trị bằng công cụ văn hóa, biện pháp văn hóa. Việc xác định ngoại giao văn hóa là một trong ba trụ cột của nền ngoại giao toàn diện Việt Nam với nội hàm trọng tâm là quảng bá, xúc tác, mở đường, vận động, tiếp thu có thể coi là bước chuyển căn bản về nhận thức và tư duy, mở ra một thời kỳ phát triển mới của ngoại giao Việt Nam, góp phần làm tốt công tác ngoại giao và sử dụng ngoại giao để tôn vinh văn hóa dân tộc. Ngoại giao văn hóa, xét đến cùng, chính là nhân tố cốt lõi của quyền lực mềm, sức mạnh mềm, đang được các quốc gia khai thác triệt để nhằm khẳng định vị thế, ảnh hưởng và uy lực trên trường quốc tế.
 
Những hoạt động ngoại giao văn hóa trong năm 2009 tiếp tục bám sát mục tiêu gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế xã hội, giới thiệu văn hóa, đất nước, con người Việt Nam với bạn bè quốc tế, tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới, tạo điều kiện thuận lợi và tăng cường nguồn lực cho văn hóa trong nước phát triển, mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác với các nước, các tổ chức khu vực và quốc tế, đào tạo nguồn nhân lực về văn hóa cho đất nước.
 
Toàn bộ hoạt động ngoại giao văn hóa của Việt Nam đều tập trung nhấn mạnh hình ảnh Việt Nam - một quốc gia yêu chuộng hòa bình với một nền chính trị ổn định, một nền kinh tế đang phát triển năng động và hội nhập quốc tế; tài nguyên phong phú; con người Việt Nam thân thiện, mến khách; một nền văn hóa đặc sắc kết tinh từ lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước và đang trên đường đổi mới. Hàng chục hoạt động văn hóa đối ngoại với nhiều quy mô khác nhau đã được tổ chức ở khắp các châu lục. Nhiều tuần Việt Nam, ngày Việt Nam, các hoạt động biểu diễn nghệ thuật, tuần phim, triển lãm giới thiệu hình ảnh đất nước, hội thảo, xúc tiến quảng bá du lịch,... đã được tổ chức ở nhiều nước như Trung Quốc, Lào, Nhật Bản, Hàn Quốc, Triều Tiên, Nga, Belarus, Anh, Pháp, Thụy Điển, Tây Ban Nha, Hà Lan, Italy, Hoa Kỳ,... Đặc biệt, 2009 là năm lần đầu tiên ta tổ chức Tuần Việt Nam tại Nam Phi, Vênêxuêla và Braxin, để lại những ấn tượng sâu sắc trong lòng người dân và bè bạn tại đây. Xét về quy mô, một trong những chương trình lớn nhất trong công tác quảng bá Việt Nam là sự kiện Gặp gỡ Việt Nam tổ chức tại San Francisco, California, Hoa Kỳ. Đây là lần đầu tiên một đoàn đại biểu với số lượng lên đến gần 300 người của Việt Nam tham dự các hoạt động giao lưu kinh tế, văn hóa, giáo dục với bang California - trung tâm kinh tế, thương mại, tài chính và công nghệ cao của Hoa Kỳ.
 
Những hoạt động ngoại giao văn hóa này đã góp phần tích cực trong việc làm cho bè bạn và người dân thế giới hiểu rõ và đúng hơn về Việt Nam, quảng bá hình ảnh đất nước, củng cố nền tảng thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các nước, gắn kết khối đại đoàn kết dân tộc, khơi dậy tinh thần yêu nước, hướng về cội nguồn của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
 
Năm 2009 cũng là năm thành công với các hoạt động tôn vinh các giá trị thiên nhiên và văn hóa của Việt Nam. Với những nỗ lực vận động của Việt Nam, UNESCO đã công nhận Quan họ là “Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại”, Ca trù là “Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp”; mộc bản triều Nguyễn - những tài liệu có niên đại từ 1697-1945, là di sản tư liệu được đưa vào Chương trình Ký ức thế giới; Cù Lao Chàm, mũi Cà Mau là khu dự trữ sinh quyển thế giới. Bên cạnh đó, công tác vận động quảng bá Vịnh Hạ Long đã đạt được kết quả tích cực. Những nỗ lực của Việt Nam đã góp phần đưa Vịnh Hạ Long vượt qua 440 đề cử ban đầu, vào danh sách 28 ứng cử viên vòng chung kết cho cuộc vận động bầu chọn 7 kỳ quan thiên nhiên thế giới theo sáng kiến của tổ chức New7Wonders.
 
Không chỉ được tổ chức ở nước ngoài, các hoạt động văn hóa đối ngoại còn được Bộ VHTTDL cùng với các bộ ngành, địa phương phối hợp tổ chức, đồng thời phối hợp và tạo điều kiện cho các Đại sứ quán các nước tổ chức nhiều sự kiện, hoạt động văn hóa quốc tế tại Việt Nam như Lễ hội hoa Anh đào Nhật Bản, Tuần Văn hóa Hàn Quốc, Tuần Văn hóa Campuchia, Tuần lễ phim Anh, Tuần lễ phim Pháp, Liên hoan âm nhạc châu Âu, Triển lãm hình ảnh 50 năm Cách mạng Cuba, Tuần phim Braxin, Tuần Văn hóa Vênêxuêla, hội thảo giới thiệu du lịch Mêxicô, Triển lãm tranh của các nữ họa sĩ I-ran... Đặc biệt, việc Dàn nhạc giao hưởng New York Philharmonic đến biểu diễn tại Việt Nam tháng 10-2009 là một sự kiện quan trọng, khẳng định xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng trong lĩnh vực văn hóa, khẳng định Việt Nam là điểm đến, là nơi giao lưu, chia sẻ giữa các nền văn hóa trên thế giới.
 
Nhằm tôn vinh văn hóa truyền thống trong quá trình hội nhập và giao lưu văn hóa thế giới, năm 2009, các địa phương đã tổ chức nhiều hoạt động văn hóa lễ hội, du lịch, thể thao như Diễn đàn Du lịch ASEAN và Hội chợ Du lịch ASEAN tại Hà Nội, Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam tại Hà Nội, Cuộc thi bắn pháo hoa quốc tế lần thứ hai tại Đà Nẵng, Lễ hội Yên Thế tại Bắc Giang, Lễ hội xên mường tại Sơn La, Tuần lễ du lịch Hạ Long, Festival biển Nha Trang, Festival cồng chiêng quốc tế năm 2009 tại Gia Lai, Festival lúa gạo Việt Nam lần thứ nhất tại Hậu Giang, Đại hội thể thao châu Á trong nhà, Cuộc thi hoa hậu quý bà đẹp và thành đạt thế giới tại Bà Rịa - Vũng Tàu, Những ngày du lịch văn hóa Mê công - Nhật Bản tại Cần Thơ, Hội nghị quốc tế giới thiệu văn học Việt Nam,... Riêng cuộc thi hoa hậu quý bà đẹp và thành đạt đã được truyền hình trực tiếp đến 56 quốc gia qua kênh truyền hình Star World Networks, trong đó có 9 phút giới thiệu hình ảnh đất nước, văn hóa, lịch sử, con người Việt Nam đến với hơn 500 triệu khán giả khắp hành tinh.
 
Đánh giá một cách toàn diện, các hoạt động ngoại giao văn hóa năm 2009 đã được tổ chức với quy mô lớn, hình thức đa dạng, chất lượng cao, chuyên môn sâu, cách thức bài bản, nội dung phong phú và chuyển tải được nhiều thông điệp hơn. Điểm nổi bật là các hoạt động ngoại giao văn hóa ngày càng được lồng ghép và gắn bó hữu cơ, được nhấn mạnh và xuyên suốt trong toàn bộ các hoạt động chính trị đối ngoại và kinh tế đối ngoại của Đảng, Nhà nước và ngoại giao nhân dân, phục vụ tích cực cho mục tiêu gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác phát triển và hội nhập, tăng cường quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam. Chất lượng quảng bá hình ảnh và tiềm năng đất nước được nâng cao, tình hữu nghị, sự hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân Việt Nam và các nước trên thế giới được tăng cường, góp phần tranh thủ nhiều hơn các nguồn lực bên ngoài phục vụ phát triển.
 
Thành công của các hoạt động văn hóa đối ngoại trong năm ngoại giao văn hóa 2009 cho thấy yếu tố văn hóa là một trong những nhân tố quan trọng trong hoạch định và triển khai đường lối đối ngoại phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh Việt Nam, góp phần hình thành phương pháp và phong cách ngoại giao mang đặc trưng riêng Việt Nam.
 
Nguyễn Hải Anh
Tạp chí VHNT số 309
CHIA SẺ ĐẾN BẠN BÈ: