HOTLINE: 0904 89 4444

Quốc hiệu Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử (Kỳ 8)
(Phương Nam Plus) - Trân trọng giới thiệu tiếp sách “Quốc hiệu Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử” của PGS TS Sử học Cao Văn Liên do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia-HN-2012 ấn hành.
20:25 21-03-2021


Ảnh minh họa Internet

Kỳ 8: QUỐC HIỆU ĐẠI VIỆT THỜI LÊ SƠ 1428 - 1527

1. Thiết chế chính trị
 
Nhà Hậu Lê do Lê Lợi (quê ở Lam Sơn ,Thọ Xuân ,Thanh Hoá) sáng lập sau kết quả cuộc kháng chiến chống quân Minh thắng lợi. Năm 1428 Lê Lợi lên ngôi vua xưng là Lê Thái Tổ, quốc hiệu Đại Việt, định đô ở Thăng Long. Nhà Hậu Lê dựa trên nền kinh tế địa chủ tá điền và cơ sở xã hội là giai cấp địa chủ phong kiến mới: Qúy tộc và địa chủ. Bản thân Lê Lợi cũng xuất thân từ một địa chủ ở Lam Sơn. Chế độ tư hữu ruộng đất phát triển mạnh mẽ, kinh tế điền trang thái ấp hoàn toàn tan rã.

Hình thức kinh tế mới, tầng lớp địa chủ mới đã mang lại một sức sống mới, khắc phục được tình trạng khủng hoảng tạm thời của chế độ phong kiến khi kinh tế điền trang thái ấp tan rã. Nhà Hậu Lê ra sức xây dựng một chế độ phong kiến tập quyền chuyên chế cao độ, hoàn bị về mọi mặt. Các vị vua thời Hậu Lê là người có quyền vô thượng và tuyệt đối. Dưới vua, trong triều đình chia làm hai ban văn võ: Đại tư đồ, Đại tư không, Đại tư mã, Thái bảo, Thái phó, Thái uý, Thiếu bảo, Thiếu phó, Thiếu uý. Các chức vụ này do hoàng thân quốc thích nắm giữ. Còn lập thêm Chính sự viện bao gồm các quan văn võ trông coi các công việc trọng yếu.


Ban văn có Đại hành khiển và ngũ Đại hành khiển đứng đầu, có các bộ do các Thượng thư đứng đầu. Bộ là cơ quan hành pháp được hoàn thiện dưới thời vua Lê Thánh Tông trong cuộc cải cách hành chính của ông: Bộ binh phụ trách về quân sự, quốc phòng, Bộ Hộ coi sóc về dân số để thu thuế, tuyển dụng binh lính và huy đụng dân công, lao dịch; Bộ hình phụ trách về tư pháp, Bộ lại phụ trách về bổ nhiệm, tuyển dụng thăng giáng quan lại, Bộ công phụ trách về xây dựng và các công xửơng nhà nhà nước, Bộ Lễ phụ trách lễ nghi, thi cử giáo dục, ngoại giao. Đứng đầu Bộ là Thượng Thư. Giúp việc cho Thượng thư có tả hữu Thị Lang, tả hữu Lang Trung. Dưới bộ lập thêm 6 khoa: lại, lễ, binh, hình, công, hộ có nhiệm vụ giám sát 6 bộ, còn có 6 tự: Thương bảo tự, Quang lộc tự, Hồng lô tự, Thái thường tự, Thái bộc tự, Đại lý tự và ngũ giám như Quốc tử giám, Khâm thiên giám… để làm những việc mà bộ không làm hết.

Ban võ có Ngự tiền lục quân, Thiết đội ngũ quân, Ngũ đạo chư vệ quân. Còn có Đại tổng quản, Đại đô đốc, Đô tổng quản. Lại lập các chức quan chuyên trách như Nội mật viện, Hàn lâm viện, Ngũ hình viện, Ngự sử Đài(xét xử án và kiểm soát quan lại). Quốc tử giám trông coi giáo dục, Quốc sử viện biên soạn lịch sử, Tư thiên giám trông coi thiên văn lịch pháp. Nhà Hậu Lê không đặt chức Tể tướng để tập trung quyền lực vào tay vua.

Toàn bộ các cơ quan và quan lại đặt dưới sự điều hành của nhà vua. Vua là Thiên tử (con trời). Vua không chỉ cai trị thần dân mà còn thưởng phạt cả thần thánh. Dưới triều Hậu Lê xu hướng chuyên chế độc đoán ngày càng phát triển.
 
Ở địa phương quyền lực các quan bị hạn chế. Đời Lê Thánh Tông (1460 - 1497), cả nước chia thành 13 đạo, mỗi đạo do 3 ti phụ trách: Ti thừa trông coi hành chính, tài chính và tư pháp, Ti đô coi việc quân, Ti hiến dám sát công việc trong đạo. Sự phân chia như vậy nhằm làm giảm quyền lực địa phương, tăng quyền lực cho Trung ương. Cũng như triều Trần, nhà Lê tăng cường chính quyền cấp xã. Lãnh thổ Đại Việt thời Hậu Lê đã thêm phủ Thuận Hoá (bao gồm Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế và Quảng Nam ngày nay). Số quan lại nhà Lê tăng lên nhanh chóng. Năm 1471 quan lại có phẩm tước là 5370 người, trong đó có 2755 quan lại triều đình, 2615 quan lại địa phương. Quí tộc tôn thất được ưu đãi, lương bổng cao nhưng muốn tham gia chính sự phải có tài năng. Quan lại nhà Lê được tuyển bằng khoa cử. Chế độ tuyển dụng và bổ nhiệm được xây dựng bằng qui chế chính qui chặt chẽ. Quan lại được cấp đất, một số tiền và thu thuế một số hộ làm lương bổng.

Nhà Lê ra sức mở rộng ảnh hưởng của triều đình đến các dân tộc thiểu số miền núi, tranh thủ các tù trưởng, cho họ nhiều quyền hành rộng lớn, cai quản theo phong tục, tập quán địa phương. Triều đình kiên quyết trấn áp các tù trưởng phản loạn, cát cứ. Năm 1469 hoàn thành vẽ bản đồ cả nước: bản đồ Hồng Đức, xác định chặt chẽ lãnh thổ biên giới quốc gia. Nhà Lê xây dựng một quân đội hùng mạnh bao gồm hai thứ quân: quân thường trực và quân dự bị. Các vương hầu không được xây dựng lực lượng vũ trang riêng. Nhà Lê thi hành chính sách “Ngụ binh ư nông” để bảo đảm quốc phòng và sản xuất. Quân đội nhà Lê do đó hùng mạnh, tổ chức chặt chẽ, kĩ chiến thuật chiến đấu cao. Thời Lê Thái Tổ (1428 - 1433) có 10 vạn quân thường trực, thời Lê Thánh Tông (tại vị 1460 - 1497) có 16 vạn.

Hoạt động lập pháp thời Hậu Lê được tăng cường. Năm 1483 nhà Lê ban hành bộ luật Hồng Đức gồm 6 quyển,16 chương, 721 điều bao gồm luật dân sự, luật hình sự và tố tụng hình sự. Luật Hồng Đức (Lê triều hình luật) là bước phát triển mới của lịch sử pháp quyền việt nam. Nho giáo dưới thời Lê trở thành tư tưởng chính thống của nhà nước và giữ địa vị chủ yếu, chi phối mạnh mẽ đời sống xã hội tinh thần.


Tất cả những chính sách của nhà Hậu Lê, đặc biệt dưới thời Lê Sơ (1428 - 1527) đã đưa chế độ phong kiến phát triển toàn diện và cực thịnh vào thế kỷ XV, Đại Việt trở thành quốc gia hùng cường ở Đông Nam Á. Nhà Lê kiên quyết bảo vệ lãnh thổ, chủ quyền quốc gia dân tộc.
 
2. Kinh tế Đại Việt thế kỷ X - XV

Cũng như chế độ phong kiến châu Á, chế độ phong kiến Đại Việt chủ yếu dựa trên cơ sở kinh tế nông nghiệp, hơn 90 phần trăm cư dân là nông dân. Nông nghiệp là ngành kinh tế chính nuôi sống cả nước. Vì thế các triều đại khi còn thịnh vượng đều ra sức phát triển, bảo vệ nền kinh tế nông nghiệp.

Một trong những chính sách bảo đảm thúc đẩy nông nghiệp phát triển là chính sách ruộng đất vì ruộng đất là tư liệu sản xuất chính. Ruộng đất trong toàn quốc về danh nghĩa thuộc quyền sở hữư tối cao của nhà vua. Quyền sở hữu ruộng đất giúp vua có quyền lực vô biên về chính trị. Thần dân chỉ có quyên chiếm hữu, quyền sử dụng. Do đó tồn tại nhiều chế độ ruộng đất, tức là nhiều hình thức chiếm hữu, sử dụng.
 
Nhà Tiền Lê (Lê Hoàn) là vương triều đầu tiên đem ruộng đất phân phong cho hoàng tộc và các đại thần có công để họ lập nên thái ấp. Đến nhà Lý, chính sách này ngày càng hoàn thiện hơn. Trên danh nghĩa ruộng đất thuộc quyền sở hữu tối cao của nhà vua, nhà vua có quyền đem một số hộ nông dân và ruộng đất của công xã cấp cho quí tộc, quan lại để họ lập thái ấp. Chế độ cấp đất tính theo số hộ nông dân được gọi là đất thực phong thực ấp. Các hộ trong thái ấp thực phong thực ấp cày ruộng nộp tô thuế, đi lao dịch, binh dịch cho chủ đất được phong. Ví dụ, Lý Thường Kiệt giữ chức Thái uý (Tư lệnh quân đội) được cấp 4000 hộ thực phong và 10.000 hộ thực ấp. Lý Bất Nhiễm tước hầu được cấp 1500 hộ thực phong và 7500 hộ thực ấp. Một số Đại thần có công lớn triều đình còn ban thưởng ruộng “Thác đao điền”.

Thái ấp thời Lý dù cấp cho chủ đất sử dụng nhưng vẫn bị triều đình chi phối. Việc thừa kế ruộng đất do nhà vua quyết định. Thái ấp có thể bị thu hồi. Nhà nước nghiêm cấm việc chủ đất biến nông dân trong thái ấp của mình thành nông nô. Để có người phục dịch trong gia đình, chủ đất có thể nuôi một số gia nô (nô tì). Nhà vua nắm quyền sở hữu thái ấp, không cho chủ thái ấp biến nông dân thành nông nô là hai qui định quan trọng nhằm hạn chế quyền lực của người được phong cấp đất, không để họ biến thành lãnh địa cát cứ chống lại chính quyền trung ương, bảo vệ lực lượng sản xuất chính của xã hội là người nông dân. Cho nên phong kiến Việt Nam không có lãnh địa thế tập như phong kiến Tây Âu. Trong thái ấp công xã nông thôn vẫn tồn tại, nông dân cày ruộng nộp tô, đi lao dich, binh dịch cho chủ thái ấp theo mức qui định của nhà nước.

Đại Việt thời Lý còn tồn tại ruộng đất công của công xã, loại ruộng đất này chiếm đại bộ phận trong nước. Công xã tức là đơn vị hương giáp. Công xã cấp ruộng cho những thành viên của mình cày cấy và nộp tô, thuế, đi lao dịch, đi lính cho nhà nước vì quyền sở hữu tối cao ruộng đất thuộc về nhà vua. Vua có quyền đem ruộng đất công xã và một số hộ trong đất đó cấp cho quan lại làm ruộng thực phong thực ấp.
 
Loại ruộng đất thứ 3 đời Lý là ruộng quốc khố thuộc quyền sở hữu và sử dụng của nhà nước. Nhà nước giao cho tù nhân, tù binh cày cấy và nộp tô cho nhà nước. Tô của loạị ruộng này rất nặng so với ruộng của công xã và thái ấp. Ngoài ra, còn loại ruộng tư của địa chủ của nông dân tự canh. Việc mua bán ruộng đất dưới thời Lý diễn ra ngày càng phổ biến theo qui luật chiếm hữu tư nhân ngày càng phát triển.
 
Chính sách ruộng đất và các loại chiếm hữu ruộng đất dưới thời Trần cũng tương tự như thời Lý. Cái khác là ở đời Trần chế độ điền trang thái ấp phát triển mạnh do nhà nước dùng nhiều ruộng đất ban cấp cho hoàng tộc, quan lại, công thần, còn là do nạn quí tộc ra sức dùng mọi thủ đoạn cướp đoạt ruộng đất của nông dân. Chính sự phát triển mất cân đối này làm cho chế độ điền trang thái ấp cuối đời Trần, đời Hồ lâm vào cuộc khủng hoảng và diễn tiến thành cuộc khủng hoảng cục bộ, tạm thời của chế độ phong kiến Việt Nam cuối thế kỷ XIII, đầu thế kỷ XIV.

Sau khi chiến thắng quân Minh, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, triều Hậu Lê được xây dựng trên cơ sở kinh tế địa chủ tá điền. Để đẩy mạnh chế độ tư hữu ruộng đất, nhà Lê thi hành chế độ “Quân điền” ban hành năm 1429 đời Lê Thái Tổ. Chế độ này qui định dùng ruộng đất công của công xã chia cho quan lại và nông dân. Phần đất của dân ít hơn phần đất của quan lại. Quan tước vị và chức vụ thấp phần ruộng ít hơn quan có chức vụ và tước vị cao. Ví dụ một viên quan Tam phẩm được 11 phần thì một nông dân nghèo chỉ được 3 phần. Thời gian được cấp là 6 năm. Nông dân cày ruộng được chia nhưng phải nộp tô, đi lao dịch, binh dịch cho nhà nước. Với chính sách “Quân điền” nhà Lê vẫn bảo tồn công xã, tế bào của xã hội phong kiến, mặt khác khôn khéo lợi dụng công xã phục vụ cho lợi ích của nhà nước, biến công xã thành cơ sở để chính quyền bóc lột, công xã phải lệ thuộc vào nhà nước, nông dân công xã thành tá điền của nhà nước. Đây là một bước huỷ bỏ dần dần tính tự trị của công xã, đẩy nhanh quá trình phát triển của xã hội phong kiến Việt Nam.
 

Tiếp theo chính sách “Quân điền”, năm 1477, Lê Thánh Tông ban hành chính sách “Lộc điền”. Lộc điền là ruộng đất của nhà nước ban cấp cho quan lại cao cấp từ tứ phẩm trở lên. Lộc điền bao gồm hai loại ruộng, một phần cấp vĩnh viễn cho chủ đất, một phần cấp sử dụng không vĩnh viễn. Sau ba năm chủ đất chết, phần không vĩnh viễn phải trả lại cho nhà nước. Ví dụ một thân vương nhất phẩm được ban cấp 218 mẫu, trong đó có 18 mẫu cấp vĩnh viễn, số còn lại là cấp không vĩnh viễn. Chế độ “Lộc điền” coi như lương bổng nhà nước cấp cho quan lại. Giống như nhà Lý, nhà Lê cũng qui định người được hưởng “Lộc điền” không được biến nông dân thành nông nô nhằm chống lại việc phát sinh lãnh địa thế tập phong kiến cát cứ, bảo đảm quyền lực vĩnh viễn của trung ương, buộc tầng lớp địa chủ mới này phải lệ thuộc vào nhà nước, bảo vệ nông dân, bảo vệ lực lương sản xuất của xã hội.

Chính sách ruộng đất của nhà Hậu Lê dù là “Quân điền “hay “Lộc điền” đều nhằm bảo vệ quyền sở hữư ruộng đất của nhà nước, mặt khác, mở rộng chế độ tư hữu ruộng đất, phục hồi phát triển nền kinh tế địa chủ, tiểu nông, chỗ dựa kinh tế xã hội của nhà Hậu Lê, giải quyết được những mâu thuẫn ruộng đất nẩy sinh nghiêm trọng gay gắt cuối đời Trần - Hồ, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội. Song chính sách nào của một nhà nước bao giờ cũng có mặt tích cực và mặt tiêu cực. Trong tích cực đã chứa đựng yếu tố tiêu cực. Chính sách ruộng đất của nhà Hậu Lê chứa đựng mâu thuẫn và sự vận động của mâu thuẫn này sẽ dẫn nhà Lê đến suy vong vào thế kỷ XVI và sụp đổ vào thế kỷ XVIII.

Để phát triển nông nghiệp, các vương triều từ Tiền Lê đến Hậu Lê đều chăm lo xây dựng bảo vệ đê điều, phát triển hệ thống tưới tiêu nông nghiệp. Nhà Tiền Lê đã tiến hành nạo vét kênh, sông, mở mang đường thuỷ tiện lợi cho giao thông và cung cấp nước tưới tiêu. Nhà Lý tiến hành xây dựng các công trình thuỷ lợi có qui mô lớn, đắp đê Cơ Xá (đê sông Hồng), cho khơi sâu thêm các sông ngòi ở vùng Thanh Hoá. Nhà Trần tiến hành đắp đê phòng lụt hàng năm với qui mô lớn. Đặt ra chức Hà đê chánh sứ, Hà đê phó sứ chịu trách nhiệm trông coi đê điều. Triều đình coi việc đê điều là việc của nhà nước. Vua Trần có khi tự trông coi việc đắp đê. Thời Hậu Lê ra sức tu bổ hệ thống đê điều đã có và đắp thêm đê mới: đê Hồng Đức,đào nhiều sông ở Thanh Hoá được gọi là sông nhà Lê. Ngoài chức Hà đê chánh phó sứ, nhà Hậu Lê còn đặt chức “Khuyến nông sứ”. Các công xã ở các địa phương phải đảm nhận xây dựng các công trình thuỷ lợi nhỏ. Việc kiểm tra đê điều dưới thời Hậu Lê được tiến hành thường xuyên và hết sức chặt chẽ.

Để mở rộng thêm diện tích cày cấy, các vương triều định ra chính sách khai hoang. Nhà Lý và nhà Hậu Lê chiêu dụ nông dân phiêu tán trở về quê nhận ruộng cày cấy. Nhà Trần đặt ra chức Đồn điền chánh sứ, Đồn điền phó sứ trông coi khẩn hoang và quản lý đồn điền. Năm 1260, nhà Trần cho phép vương hầu, công chúa, phò mã chiêu tập dân nghèo không có đất bị biến thành nô tì tiến hành khai hoang ven biển, ven sông Hồng lập nên những đồn điền rộng lớn. Các đồn điền do khẩn hoang mà lập nên đều thuộc quyền sở hữu của chủ đồn điền. Khẩn hoang là một trong những chính sách lớn của triều Hậu Lê. Năm 1481, nhà nước có 43 đồn điền do đất khai hoang lập nên, đặc biệt chú trọng khẩn hoang đất đai phía Nam, ven biển và miền trung du. Nhiều làng ở Hải Dương, Hưng Yên và ven biển Thanh - Nghệ đều được lập vào thế kỷ XV. Các vương triều đều chú trọng khuyến nông. Vua Lê Đại Hành (Lê Hoàn) đặt ra lệ “Tịch điền”, nhà vua cầm cày cày luống đầu tiên vào ngày 1 tết Nguyên đán để khuyến khích nông nghiệp. Nhà Lý, Trần, nhà Hậu Lê nghiêm cấm việc giết hại trâu bò để bảo vệ sức kéo. Những năm mất mùa đói kém, các vương triều đều miễn, giảm thuế  cho nông dân. Chính sách nghiêm cấm chủ đất biến nông dân thành nông nô là nhằm bảo vệ người nông dân, bảo vệ lực lượng sản xuất chính của xã hội. Tất cả những chính sách đó làm cho nông nghiệp các triều đại thế kỷ X - XV phát triển, thâm canh tăng năng suất lao động. Thời Trần 1 năm cấy tới 4 vụ lúa, một sự thâm canh vượt xa các thời đại trong lịch sử nông nghiệp Việt Nam.

Kinh tế thủ công nghiệp: Các triều đại đều chú ý phát triển công, thương nghiệp. Các nghề thủ công cổ truyền dân tộc như gốm, dệt vải, làm đồ sứ, luyện sắt, đúc đồng, làm đồ đá, các đồ mỹ nghệ, khắc chạm gỗ đều được duy trì và phát triển. Thời Lý dệt được vải, lụa, đoạn nhiều mầu sắc khác nhau bền đẹp, hoa văn nhiều hoạ tiết. Năm 1044, vua Lý Thái Tông quyết định dùng gấm vóc trong nước để may lễ phục cho các quan, không nhập khẩu gấm của nước ngoài nữa. Đồ gốm sành, sứ dùng trong gia đình có chất lượng cao, nghệ thuật trang trí hoa văn trang nhã, hài hoà, khắc chạm chìm, nổi, phong phú chủng loại. Đại Vịêt đã sản xuất được gạch ngói tráng men, ngói sứ trắng, gạch đẹp cỡ lớn có khắc niên hiệu đời Lý.

Ở các triều đại nghề đúc tiền, đúc chuông, sản xuất vũ khí, công cụ sản xuất và làm đồ mỹ nghệ phát trỉên. Đồ mỹ nghệ vàng, bạc đạt trình độ tinh xảo. Nhà nước nắm độc quyền đúc tiền, nghề khai thác mỏ để lấy khoáng sản phục vụ cho nghề thủ công mỹ nghệ.


(Còn nữa)
 
PGS TS Cao Văn Liên
CHIA SẺ ĐẾN BẠN BÈ: