HOTLINE: 0904 89 4444

Quốc hiệu Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử (Kỳ 9)
(Phương Nam Plus) - Trân trọng giới thiệu tiếp sách “Quốc hiệu Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử” của PGS TS Sử học Cao Văn Liên do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia-HN-2012 ấn hành.
15:47 23-03-2021
Nơi sản xuất thủ công nghiệp là các làng thủ công ở nông thôn, lâu đời hình thành làng nghề và bí quyết nghề nghiệp chuyên sản xuất một loại sản phẩm nổi tiếng như làng Bát tràng (Hà Nội) chuyên sản xuất đồ gốm, làng Ma lôi (Hải Dương) chuyên làm nón Ma lôi. Ở các đô thị cũng hình thành những phường nghề. Kinh thành Thăng Long thời Trần được chia làm 61 phố phường, có phường làm nghề thủ công sản xuất hàng hoá, có phố chỉ làm và bán một loại hàng. Thăng Long thời Hậu Lê được gọi là Đông Kinh (Thanh Hoá là Tây Kinh) chia làm 36 phố phường. Ngoài hoàng thành còn có khu vực làm nghề thủ công và buôn bán. Phường Yên Thái làm giấy, phường Hàng Đào chuyên nhuộm màu điều (đỏ). Nghề khai thác mỏ sắt, đồng, vàng, bạc thời Hậu Lê ngày càng phát đạt. Nhà nước có xưởng riêng đúc tiền, đóng tàu chiến, chế tạo vũ khí, sản xuất đồ dùng cho triều đình và quan lại. Xuất hiện những người thợ có tay nghề giỏi, lành nghề trong các xưởng nhà nước. Nhà Trần, nhà Hậu Lê đã chú ý thống nhất đơn vị đo lường, tiền tệ, kích cỡ của các loại hàng hoá như vải, giấy trong toàn quốc để trao đổi và thu thuể cho tiện lợi.
 

Thủ công nghiệp phát triển tạo nên việc giao lưu buôn bán hàng hoá trong nước mở rộng. Do đó, các vương triều chăm lo mở mang đường sá, giao thông thuỷ, bộ. Trên con đường thiên lý (đường từ Bắc vào Nam) đặt các trạm dịch cho khách bộ hành thương nhân nghỉ ngơi, ăn uống. Đường bộ đã có biển chỉ đường. Từ Thăng Long theo đường sông thuyền bè có thể tới được tận Chiêm Thành ở phía Nam, phía Bắc có thể tới được Trung Quốc. Đường thuỷ là một trong những con đường vận chuyển chủ yếu của Đại Việt trong thời gian đó. Nhà nước còn cho mở các bến đò ở ven sông, cho đóng thuyền chở người qua lại giữa các làng và các địa phương.

Ngoài Thăng Long và các đô thị là trung tâm giao lưu kinh tế, ở các địa phương, chợ thành nơi buôn bán, thành mạng lưới thị trường rộng lớn ở nông thôn. Chợ đã có từ thời xưa và đến các triều Lý, Trần, Hậu Lê được mở họp nhiều ở thôn quê, miền xuôi và miền núi. Nhà Hậu Lê ban hành thể lệ lập chợ và họp chợ. Chợ trở thành nếp sinh hoạt kinh tế, văn hoá không thể thiếu được của các làng xã Việt Nam trong các thời đại.

Đại Việt thế kỷ X - XV đã phát triển giao lưu buôn bán với nước ngoài. Thời Lý, Trần Vân Đồn (Quảng Ninh) là một thương cảng quan trọng buôn bán với các nước châu Á như Trung quốc, Chiêm Thành. Thời Lý ở vùng biên giới Vĩnh Bình - Khâm Châu họp chợ tấp nập, nhân dân hai nước Việt - Trung trao đổi mua bán. Chính quyền hai nước đôi khi cũng mua hàng hoá của nhau. Nhà Lý kiểm soát chặt chẽ ngoại thương đề phòng do thám nước ngoài nhưng không hạn chế buôn bán.

Thời Hậu Lê, ngoại thương buôn bán với nước ngoài bị hạn chế. Nhà Lê khước từ nước ngoài đến xin đặt quan hệ buôn bán. Ngoại thương chỉ được tiến hành ở Vân Đồn và một số nơi khác do nhà nước qui định.


3. Văn hoá - giáo dục Đại Việt thế kỷ X-XV

Thế kỷ X đến thế kỷ XV các vương triều đã xây dựng quốc gia phong kiến tập quyền vững mạnh, kinh tế phồn vinh tạo điều kiện cho văn hoá, giáo dục phát triển, ngược lại văn hoá, giáo dục cũng là nhân tố thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển. Các vương triều chăm lo mở mang việc học hành, thi cử, đào tạo nhân tài để tuyển dụng vào bộ máy nhà nước.


Thời Ngô - Đinh - Tiền Lê, đặc biệt là nhà Lý đạo Phật thịnh hành, sư tăng là trí thức, cho nên đạo học theo Phật học. Thời Lý là giai đoạn thịnh đạt nhất của Phật giáo Việt Nam. Sư Vạn Hạnh là người cùng với các đại thần nhà Tiền Lê đưa Lý Công Uẩn lên ngôi, lập ra vương triều Lý. Vua và quí tộc nhà Lý hết thảy đều sùng bái Phật giáo, sư tăng. Phật giáo không chỉ có ảnh hưởng hưởng sâu rộng trong xã hội mà còn ảnh hưởng lớn đến văn hoá, giáo dục, chính trị. Sư Đa Bảo, sư Viên Thông được tham dự bàn bạc và quyết định các công việc trong triều đình như cố vấn của nhà vua.

Tuy nhiên, nhà Lý đã bắt đầu chú ý đến Nho giáo mà trước hết đưa Nho vào thành hệ thống giáo dục. Năm 1070, nhà Lý xây dựng Văn Miếu thờ Khổng Tử và lập Quốc Tử Giám làm nơi học tập cho con em quí tộc, quan lại. Với sự kiện này, nhà Lý đặt nền tảng cho nền giáo dục đại học Việt Nam. Chương trình học tập, đào tạo ở Quốc Tử Giám theo kinh điển của Nho giáo. Năm 1075, nhà Lý mở khoa thi Nho học đầu tiến để chọn nhân tài. Nhà Lý đôi khi còn mở các kỳ thi tuyển nhân viên hành chính cho các cấp chính quyền, thi các môn viết chữ, làm tính và pháp luật. Xã hội thời Lý xuất hiện tầng lớp trí thức Nho giáo bên cạnh trí thức cũ là sư tăng. Nho được truyền bá vào Việt Nam thế kỷ II thời kỳ Bắc thuộc. Một thế kỷ sau khi độc lập, giai cấp phong kiến Việt Nam bắt đầu sử dụng và tìm thấy ý thức hệ của giai cấp mình ở Nho giáo, là công cụ xây dựng củng cố chế độ, xây dựng chính quyền trung ương tập quyền,giáo dục lòng trung thành của thần dân đối với nhà vua, thiết lập trật tự xã hội phong kiến, xây dựng đạo đức kỷ cương của chế độ.

Đến vương triều Trần, chế độ Nho học và thi cử đi vào nền nếp, chính qui. Ở Thăng Long lập Quốc học viện dành riêng cho con em quí tộc, quan lại và các nho sĩ vào học tập. Ở địa phương các cấp cũng có trường học của nhà nước và của tư nhân (trường tư do các nhà Nho mở), đặt thêm các chức Học quan ở các lộ, phủ, châu, qui định qui chế thi cử, định ra các học vị chính thức: học vị Thái học sinh (Tiến sĩ), năm 1247 đặt ra học vị Tam khôi: Trạng nguyên, Thám hoa, Bảng nhãn giành cho 3 người đỗ xuất sắc kỳ thi đình. Vì thế, đời Trần nho giáo chiếm ưu thế so với Phật giáo trong xã hội, chính trị, tư tưởng, văn hoá. Những người đỗ đạt cao trong các kỳ thi Nho học được giữ các chức vụ quan trọng trong bộ máy nhà nước. Các nhà Nho đã dùng chữ Hán để sáng tác văn học. Nhà nho là nhà chính trị, nhà văn, nhà thơ, nhà tư tưởng, nhà giáo dục như Chu Văn An, Lê Văn Hưu, Nguyễn Thuyên. Nhà Nho là những nhà quân sự lỗi lạc như Trần Quốc Tuấn, Trần Nhật Duật, Trần Quang Khải. Nho ngày càng có xu thế đẩy lùi Phật giáo. Thiết chế quân chủ chuyên chế tập quyền càng phát triển, Nho càng trở thành chỗ dựa về lý thuyết tư tưởng chính trị của phong kiến quí tộc.

Đời Hậu Lê, Nho giáo vươn lên giữ địa vị thống trị, thành hệ tư tưởng chính thống của chế độ quân chủ chuyên chế tập quyền, là công cụ để thống trị nhân dân về tư tuởng, tinh thần. Nhà hậu Lê xây dựng một chế độ đào tạo Nho học rất chính qui. Quốc tử Giám là cơ quan đào tạo cao nhất. Ở đây có giảng đường, có ký túc xá, có kho tàng sách phục vụ cho Nho sĩ học tập. Bên cạnh trường quốc lập còn có hệ thống trường tư. Thi cử phải trải qua nhiều cấp: thi hương là kỳ thi ở địa phương, thi hội và thi đình là những là kỳ thi ở kinh thành, 3 năm mở một kỳ. Con số thí sinh ngày càng tăng nhanh. Năm 1463 có 1.400 người thi hội, năm 1475 có tới 3000 người thi. Nhà Lê đề cao nho sĩ, đặt ra lệ xướng danh, lệ vinh qui bái tổ, sức cho địa phương phải làm nghè cho ở (ông Nghè), khắc tên người đỗ vào bia đá; bia tiến sĩ, (nay ở Văn Miếu, Hà Nội có 82 bia tiến sĩ).

Thời Hậu Lê thi cử tương đối bình đẳng, không chỉ con em quí tộc mà con em bình dân cũng được dự thi để lựa chọn nhân tài. Thi cử và lựa chọn bổ nhiệm theo một qui chế chặt chẽ. Các địa phương phải chịu trách nhiệm, tư cách người đi thi. Lý lịch của thí sinh phải khai đến ba đời. Con cháu những người làm nghề hát, những người có tội không được đi thi. Thể lệ qui chế thi hà khắc. Từ 6 - 7 tuổi, người thiếu niên đi học bậc sơ học. Sách học gồm Tam tự kinh, Tứ thư ngũ kinh, viết văn ngũ ngôn (văn 5 tiếng). Mười tuổi bắt đầu được học Tứ thư, Ngũ kinh, lịch sử Trung Quốc, chư tử cửu lưu (chín dòng tư tưởng cổ đại Trung Quốc), lịch sử Việt Nam, làm văn (câu đối 7 tiếng), làm phú (8 tiếng trở lên), tập làm văn nghĩa. Hệ thống trường học bao gồm trường làng (tư thục) do các thầy đồ mở và giảng dạy, trường phủ, huyện do nhà nước đài thọ. Quan phụ trách giáo dục huyện gọi là Huấn đạo, quản giáo dục phủ gọi là Thụ giáo, quản giáo dục lộ (đạo, tỉnh ) gọi là Đốc học. Trường trung ương đào tạo nhân tài cấp cao gọi là Quốc Tử Giám.


Nho sĩ đầu tiên trải qua 3 kỳ thi gọi là khảo khoá, nếu đỗ gọi là Khoá sinh. Khảo khoá được tổ chức vào tháng 4 âm lịch. Tháng 11 Khoá sinh trải qua kỳ thi tiến ích, sau đó trải qua kỳ thi sát hạch do chính quan Đốc học cấp lộ (đạo, tỉnh) tỉnh duyệt bài. Nếu đủ điểm Khoá sinh sẽ dự kỳ thi hương. Thi hương là kỳ thi liên lộ (đạo, tỉnh). Khoá sinh phải làm và nộp hồ sơ. Hồ sơ có chứng nhận và bảo đảm của chính quyền địa phương, sau đó chuyển về Bộ lễ trước kỳ thi một tháng.

Thời Hậu Lê, thi hương bao gồm 9 trường (9 khu vực): Hải Dương - Sơn Nam, Tam Giang, Kinh Bắc, An Bang, Tuyên Quang, Thanh Hoá, Nghệ An. Người đỗ kỳ thi hương được gọi là Cống sĩ (Hương cống), lấy 1 người, đỗ loại hai được gọi là Sinh đồ, lấy 10 người. Sinh đồ không được đi thi hội. Đỗ đầu thi hương gọi là Giải nguyên. Người thi hương phải trải qua 4 kỳ thi: kỳ 1 thi Tứ thư, Ngũ kinh, kỳ 2 hỏi về chiếu ,chế, biểu, viết theo lối biền ngẫu, kỳ 3 làm 1 bài thơ, 1 bài phú khoảng 300 tiếng trở lên, kỳ 4 viết một bài văn rút ra từ kinh sử bàn về giúp nước, cứu đời. Cống sĩ được đi thi hội. Thi hội là kỳ thi lớn (đại tỉ), tổ chức vào mùa xuân. Thi hội trải qua 4 kỳ thi, đỗ được học vị Tiến sĩ. Tiến sĩ được vào thi đình, tổ chức vào mùa thu. Thi đình do vua trực tiếp hỏi để lấy Trạng nguyên trong hàng Tiến sĩ. Không thi đình vẫn xếp loại Tiến sĩ. Năm 1232 thời Trần Thái Tông ban hành học vị Thái học sinh (Tiến sĩ) cho những người đỗ thi hội. Năm 1247 đặt ra học vị Tam khôi: Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa cho 3 người đỗ xuất sắc kỳ thi đình. Học vị Thái học sinh tồn tại đến năm 1407 (đời Hồ). Học vị Tiến sĩ có từ năm 1442 đời Lê Thái Tông. Tiến sĩ chia làm 5 bậc như hình ảnh dưới:

 
Nhìn chung học hành thi cử thời Lý, Trần do ảnh hưởng tam giáo nên còn phóng khoáng. Đến thời Hậu Lê, Nho gia độc tôn nên khoa cử nặng lý thuyết, coi trọng khoa học xã hội, coi nhẹ khoa học tự nhiên. Học hành thi cử khuôn sáo, tầm chương trích cú, dẫn lời thánh hiền, nói mà không làm. Nho sĩ được rèn luyện theo đúng đạo đức thánh hiền: nhân, trí, tín, lễ, nghĩa để thi hành đạo tam cương, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Tuy nhiên lối học hành, thi cử khắt khe đòi hỏi kiến thức sâu rộng đã đào tạo nên những danh nhân lỗi lạc cho đất nước như Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi...

Chữ viết: Trong thời Bắc thuộc, chữ Hán được du nhập vào nước ta. Khi xây dựng quốc gia phong kiến độc lập chữ Hán thành chữ chính thức trong chiếu, chỉ, tấu trình, công văn trong công việc hành chính nhà nước.

Ở thời Trần, chữ Hán được dùng để sáng tác văn học. Bên cạnh chữ Hán, cha ông ta đã sáng tạo chữ Nôm làm chữ của dân tộc. Đời Hồ, chữ Nôm được dùng làm chữ chính thức nhà nước. Sự sụp đổ của Triều Hồ năm 1407 đã đưa chữ Hán trở lại địa vị độc tôn. Đời Hậu Lê, chữ Hán và chữ Nôm đều được sử dụng để sáng tác văn học, viết lịch sử nước nhà. Hai loại chữ song hành đã đưa văn học Đại Việt thời kỳ này thành hai dòng: Văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm. Văn học chữ Nôm gần gũi với văn học dân gian. Thời Trần, Nguyễn Thuyên (Hàn Thuyên), Nguyễn Sĩ Cố  sáng tác thơ bằng chữ Nôm. Chữ Hán có thơ của Trần Nhân Tông, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu, Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Trung Ngạn. Văn chương chữ Hán có bài “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn chứa chan  tinh thần yêu nước, chí khí căm thù giặc. Khúc khải hoàn ca oanh liệt của dân tộc trong trong 3 lần chiến thắng quân Nguyên - Mông là đề tài cảm hứng vô tận cho các nhà thơ chữ Hán và chữ Nôm.

Thời Hậu Lê văn học chữ Hán chiếm ưu thế vì đó là chữ của nhà nước, chữ của thánh hiền. Văn thơ chữ Hán phát triển mạnh với các tác gia nổi tiếng như Nguyễn Trãi: “Bình Ngô đại cáo”, “Quân trung từ mạnh tập”, Lý Tử Tấn, Nguyễn Mộng Tuân. Văn thơ chữ Hán chứa chan tinh thần yêu nước, khí phách anh hùng dân tộc. Trong chiến thắng oanh liệt của cuộc kháng chiến chống Minh, “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi là bản "Tuyên ngôn độc lập” thứ hai, sau bài thơ “Thần” của Lý Thường Kiệt. Song văn học chữ Hán đời Hậu Lê dần dần đi vào khuôn mẫu chính thống, đề cao chế độ đương thời, thần thánh hoá nhà vua. Thơ của Lê Thánh Tông và hội “Tao đàn nhị thập bát tú” (thành lập năm 1494) là tiêu biểu của xu hướng này. Tuy nhiên, một số nhà thơ chữ Hán như Nguyễn Trãi, Nguyễn Mộng Tuân vẫn dùng ngòi bút vạch trần sự bất cập của xã hội đương thời.
 
Trong các thế kỷ này, văn học dân gian ngày càng phát triển. Lý Tế Xuyên đời Trần đã sưu tầm những chuyện thần thoại, chuyện cổ dân gian tập hợp trong cuốn “Việt điện u linh”. Ca dao, tục ngữ từ nhân dân lao động mà ra và ngày càng phong phú. Văn học chữ Nôm và dân gian thời kỳ này chuẩn bị tiền đề cho sự phát triển mạnh mẽ ở thế kỷ sau, khi nhân dân sử dụng các thể loại này như là một vũ khí chống lại chế độ phong kiến thối nát từ thế kỷ XVI trở đi.
 
(Còn nữa)
 
PGS TS Cao Văn Liên
CHIA SẺ ĐẾN BẠN BÈ: