HOTLINE: 0904 89 4444

Sĩ phu Bắc Hà hành xử thế nào trong thời loạn?
(Phương Nam Plus) - Về bài thơ QUA NHĨ HÀ, XEM LŨY CŨ CỦA QUÂN BẮC... của Đoàn Nguyễn Tuấn).
11:15 29-03-2021
 
Nhà thơ Vũ Bình Lục

Phiên âm: QUÁ NHĨ HÀ QUAN BẮC BINH CỔ LŨY

Sát khí xung khai vạn tảo yên,
Duy dư trĩ điệp Nhĩ Hà biên.
Tải vinh thảo mộc huân tàn chiếu,
Nhất độ can qua trực đảo huyền.
Ngũ Lĩnh quy hồn ưng vạn lý,
Chương Dương vãng sự dĩ thiên niên.
Giải tri hưng kế tu xuyên nhạc,
Tảo hướng Tây Sơn tống hạ tiên.

Dịch nghĩa: QUA NHĨ HÀ XEM LŨY CŨ CỦA QUÂN BẮC

Khói từ muôn bếp xông lên sát khí,
Giờ còn trơ lại những mảnh lũy bên sông Nhĩ.
Cỏ cây lại tươi tốt dưới nắng chiều ấm áp,
Gươm giáo một thời làm cho nhân dân khốn khổ cùng cực.
Hồn giặc bay về Ngũ Lĩnh hàng vạn dặm,
Chuyện cũ Chương Dương đã ngàn năm rồi.
Nếu biết việc “giúp Lê” thành xấu hổ với núi sông,
Thì đã sớm gửi thư chúc mừng đến nhà Tây Sơn.

Dịch thơ:

Khói muôn bếp, sát khí dâng,
Giờ trơ lũy cũ bên sông Nhĩ Hà.
Cỏ tươi đội nắng chiều tà,
Một thời gươm giáo, dân ta khổ hoài.
Chương Dương chuyện cũ chưa phai,
Hồn giặc Thanh đã bay ngoài Lĩnh xa.
“Giúp Lê”, thẹn núi sông ta,
Sớm gửi thư chúc mừng nhà Tây Sơn!
(VŨ BÌNH LỤC dịch)

Nhĩ Hà (sông Nhĩ), còn có những cái tên khác nữa. Đời Trần còn gọi là sông Lô (Lô Giang). Rồi thì sông Cái (sông Mẹ), Nhị Hà (sông Nhị) Hồng Hà (sông Hồng)… Cái tên Nhĩ Hà, gọi thế là dựa trên hình dáng con sông lượn quanh khu đất cao ráo “trong sông” (Hà Nội), như thể một cái vành tai (Nhĩ) vậy thôi. Còn như Hồng Hà, là dựa trên đặc điểm dòng sông nhuộm phù sa đỏ thắm thì dễ hiểu...

Mùa xuân năm Kỷ Dậu (1789), Quang Trung từ Phú Xuân thần tốc tiến quân ra Bắc, bao vây kinh thành Thăng Long, rồi bất ngờ tiến công như vũ bão từ nhiều hướng, như thể thiên binh vạn mã đổ xuống từ trên trời. Giặc Thanh ra sức chống trả, nhưng chúng cũng chỉ cầm cự được mấy ngày. Gần ba chục vạn quân Thanh bị đánh tan tác. Phần lớn bị tiêu diệt. Xác giặc được chất lên thành 12 đống, dân ta đắp lên thành 12 cái gò lớn. Sau nhiều tháng năm, các gò đống ấy dần dần bị san phẳng, hiện chỉ còn một cái thôi. Cái mả giặc khổng lồ ấy gọi là GÒ ĐỐNG ĐA. Số binh tướng còn sống sót, bạt vía kinh hồn, dẫm đạp lên nhau mà tranh cướp đường chạy trốn về phương Bắc, xác giặc lấp nghẽn cả Nhĩ Hà.

Sau sự kiện vĩ đại này, đầu năm 1790, theo yêu cầu của Hoàng đế Càn Long, vua Quang Trung phải đích thân sang chầu. Việc này thật khó thực hiện. Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích và các quan Tây Sơn liền bàn bạc rất chu đáo, kỹ lưỡng với Tổng đốc Lưỡng Quảng là Phúc Khang An. Phúc Khang An nhận lời giúp đỡ. Kịch bản được diễn rất thành công. Sứ đoàn nước ta do Phạm Văn Trị (giả vua Quang Trung) làm trưởng đoàn. Đi kèm còn có Hoàng tử Nguyễn Quang Thùy. Ngô Văn Sở là võ quan. Văn quan gồm các ông Phan Huy Ích, Vũ Huy Tấn, Đoàn Nguyễn Tuấn và Vũ Danh Tiên. Nhiệm vụ chủ yếu của sứ đoàn là dự lễ chúc mừng vua Càn Long thượng thọ tám mươi tuổi. Đoàn đi lên Yên Kinh của nước ta gồm hơn 150 người, đông đảo chưa từng thấy trong lịch sử bang giao hai nước Việt- Trung, trong đó, có 10 ca nữ xinh đẹp đi theo phục vụ việc múa hát. Quà tặng nhiều thứ, nhưng đặc biệt nhất là 2 con voi đực to khỏe. Từ bến Đông Bộ Đầu, tác giả qua sông bằng thuyền buồm, lên bờ Bắc. Tại đây, Đoàn Nguyễn Tuấn tận mắt chứng kiến thảm cảnh tiêu điều đồn lũy cũ của giặc Thanh, mà ở đây, tác giả gọi là “quân Bắc”. Thi nhân bồi hồi xúc động làm thơ. Đó chính là xuất xứ của bài thơ trữ tình QUA NHĨ HÀ, XEM LŨY CŨ CỦA QUÂN BẮC. Khói từ muôn bếp (giặc) xông lên sát khí, Giờ đây, chỉ còn trơ lại những lũy cũ bên bờ sông Nhĩ.

Câu đầu là mường tượng cảnh giặc Thanh đóng trại bên bờ Bắc sông Hồng. Đồn lũy của chúng dày đặc. Quân sĩ hung hăng đông như kiến. Xưa nay, Trung Quốc thường dùng chiến thuật “biển người”. Thời xưa, chỉ cần đếm số bếp là biết được số binh lính đối phương ước là bao nhiêu. Ở đời vua Trần Minh Tông, Văn Huệ Vương, Tể tướng Trần Quang Triều (cháu nội Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn) có lần đem quân đi đánh giặc Thích Na ở miền Tây Bắc nước ta, tức quãng Sơn Tây, Hòa Bình, Sơn La... ngày nay. Thi nhân Nguyễn Ức làm thơ ca ngợi chiến thắng của Trần Quang Triều. Thơ có câu “Số bếp giảm dần / Khói Mường phơ phất”. Tôi nghĩ mãi chả hiểu tác giả nói gì. Nhưng ít lâu sau lại bỗng chợt nhớ câu chuyện ở đời Tam Quốc, Khổng Minh cho làm rất nhiều bếp, rồi rút quân đi. Trinh sát đối phương mò đến kiểm tra thấy rất nhiều bếp, đoán rằng quân Thục rất đông. Tuy nhiên, Khổng Minh chỉ cho làm nhiều bếp để đánh lừa đối phương đấy thôi. Sự thực thì số quân rất ít, không dám đối đầu với đối phương, nên phải dùng cái mẹo vặt này đấy. Nguyễn Ức viết rằng “số bếp giảm dần”, nghĩa là quân giặc đã thua chạy tan vỡ cả rồi. Còn như “Khói Mường phơ phất”, là để chỉ hình ảnh cuộc sống bình yên đã trở lại với nhân dân, ở đây là các bản làng người Mường ở Tây Bắc vậy.

Thơ xưa các cụ hay dùng hình ảnh, hình tượng để biểu thị, biểu đạt, biểu ý, biểu cảm… Lại thêm phải lời ít ý nhiều, tức tối thiểu ngôn từ, tối đa cảm xúc. Rồi thì “ý tại ngôn ngoại” (ý ở ngoài lời). Phải đọc nhấm nháp. Phải nghĩ chầm chậm. Một khi đã vỡ vạc ra rồi, mới ồ lên thích thú. Càng ngẫm càng thích thú, chứ không dùng cái “thi pháp” ăn xổi ở thì, trực cảm như người văn minh hiện đại, sống nhanh sống vội như ngày nay đâu.

Nhưng với giặc Thanh, thì “Muôn bếp”, tức là rất nhiều bếp, tương ứng với muôn vạn quân Thanh. Vẫn như còn phảng phất đâu đây sát khí hừng hực của kẻ thù xâm lược ngông cuồng, tàn bạo. Tuy nhiên, giờ đây, thế cuộc đã đổi thay rồi, chỉ còn trơ lại những cái lũy, lặng lẽ cúi mặt bên dòng sông Nhĩ mà thôi! Giặc đã tan. Đất nước đã trở lại thanh bình.

Cỏ cây lại tươi tốt dưới nắng chiều ấm áp,
Gươm giáo một thời, làm cho nhân dân khốn khổ cùng cực.

Câu trên là hiện thực sau chiến tranh. Thiên nhiên cây cỏ đã lại hồi sinh tươi tốt dưới nắng ấm chiều tà. Câu sau, lại là cảm thán về một thời gươm giáo. Chiến tranh, với giặc là phi nghĩa. Với chúng ta là kháng chiến để đánh đuổi giặc thù. Hy sinh, mất mát, gian khổ cùng cực là điều không thể tránh khỏi. Biết vậy, nhưng phải cầm lòng vậy, không thể nào khác được. Lòng thi nhân bùi ngùi cảm khái. Vậy nhưng, tác giả lại bình luận:

Hồn giặc (Thanh) đã bay về dãy núi Ngũ Lĩnh xa vạn dặm,
(Thêm nữa), chuyện cũ Chương Dương cũng đã ngàn năm rồi.

Tại sao không phải là hồn giặc đã bay về Yên Kinh xa tít, hay là vùng Lưỡng Quảng bên kia biên giới hiện thời, mà lại là Ngũ Lĩnh xa vạn dặm? Có lẽ, Đoàn Nguyễn Tuấn đã hiểu rõ rằng, dãy Ngũ Lĩnh trùng điệp xa vạn dặm kia, từng là biên giới của nhà Tần, nhà Hán với nước Nam Việt của ta, ở thời Triệu Vũ Đế anh hùng tài lược làm chủ. Nước Nam Việt của dân Bách Việt (hàng trăm tộc Việt), bao gồm Lưỡng Quảng, chạy dài ra bán đảo Hải Nam, sau bị nhà Hán cướp mất. Năm 40 sau công nguyên, Hai Bà Trưng khởi nghĩa giành lại đất Nam Việt cũ, nhưng cũng chỉ giữ được 3 năm. Nhà Hán sai tướng Mã Viện đem quân cướp lại đất Lĩnh Biểu, còn gọi là Lĩnh Ngoại (vùng đất ngoài Ngũ Lĩnh), hay là Lĩnh Nam (vùng đất phía Nam Ngũ Lĩnh). “Đô thành đóng cõi Mê Linh / Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta” (Diễn ca của Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái). Chả thế mà, khi cử sứ đoàn do Đại Đô đốc Vũ Văn Dũng sang nhà Thanh, vua Quang Trung đã “chỉ thị” cho Vũ Văn Dũng phải thử đòi lại đất Lưỡng Quảng đấy sao?

Giờ đây, hồn phách của bọn xâm lược nhà Thanh đã bay về Ngũ Lĩnh xa vạn dặm. Thêm nữa, chuyện cũ Chương Dương cũng đã lâu lắm rồi. Thực ra, số lượng từ “ngàn năm”, cũng chỉ là để nhắc lại một chiến công rất lớn đã xa ở đời Trần, quân ta đánh bại giặc Nguyên Mông ở bến Chương Dương (nay là đoạn cầu Chương Dương nối đôi bờ sông Hồng. Một bên là phố Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật,của quận Hoàn Kiếm. Một bên bờ Bắc là quận Long Biên-Hà Nội. Nguyên Mông là một đế quốc hùng mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ. Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải từng viết “Chương Dương cướp giáo giặc / Hàm Tử bắt quân thù” (Đoạt sáo Chương Dương độ, Cầm hồ Hàm Tử quan) đấy sao! Chiến công đánh bại giặc Thanh, cũng là sự tiếp nối những chiến công hiển hách chống ngoại xâm của cha ông ta, sao chẳng tự hào! Hai câu kết của bài thơ, mới thấy rõ quan điểm của Đoàn Nguyễn Tuấn:

Nếu như biết trước việc “Giúp Lê” là chuyện đáng xấu hổ với núi sông,
Thì đã sớm gửi thư chúc mừng tới nhà Tây Sơn!

Đoàn Nguyễn Tuấn, cũng như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Vũ Huy Tấn đều là những kẻ sĩ Bắc Hà có tầm nhìn, tầm nghĩ tiến bộ, vượt ra khỏi bức trường thành tư tưởng bảo thủ cố hữu của Nho giáo. Xem việc “Phù Lê”, một triều đại đã quá mục ruỗng, thối nát, suy tàn, là việc rất đáng xấu hổ với núi sông, thì quả là khác người. Đứng về phía mặt trời, hay là về phía bóng tối? Bất chợt, lại nhớ câu nói rất cảm động của danh tướng Mã Siêu, một trong “Ngũ hổ” của nhà Thục Hán, khi ông chân thành nói với Lưu Bị, rằng “Nay mới gặp được minh chúa, ví cũng như quét đám mây mù mà trông thấy trời xanh”! Kẻ sĩ đương thời không phải ai cũng có thể dễ dàng nhận ra cái chân lý đơn giản ấy. Nhà Nho “xuất xử” hợp thời, chẳng phải cũng là thực hành cái lý tưởng “đại dụng” đấy sao? Cách hành xử của Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Vũ Huy Tấn, hay Đoàn Nguyễn Tuấn, khác hẳn với các ông Trần Danh Án, Nguyễn Du (em rể Đoàn Nguyễn Tuấn) vậy!
 
Nhà thơ Vũ Bình Lục
CHIA SẺ ĐẾN BẠN BÈ: