HOTLINE: 0904 89 4444

Quốc hiệu Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử (Kỳ 11)
(Phương Nam Plus) - Trân trọng giới thiệu tiếp sách “Quốc hiệu Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử” của PGS TS Sử học Cao Văn Liên do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia-HN-2012 ấn hành.
23:27 29-03-2021


Ảnh minh họa Internet

Kỳ 11: Quốc hiệu Đại Việt thời Lê Trung Hưng và thời Tây Sơn (1533 - 1802)
 
1. Nhà Mạc: Qua 600 năm giành độc lập, chế độ phong kiến Việt Nam được xây dựng và phát triển toàn diện mà đỉnh cao là thời Lê Sơ thế kỷ XV

Bước vào thế kỷ XVI, chế độ phong kiến Việt Nam bắt đầu phản động, tha hoá. Xu hướng đi xuống của chế độ này được biểu hiện ở sự hủ bại, thối nát của giai cấp cầm quyền. Từ triều đình trung ương đến quan lại các cấp chính quền địa phương đều mục ruỗng. Vua quan miệt mài trong các cuộc trác táng, truỵ lạc, xa xỉ và phè phởn, vung phí tiền bạc của nhà nước, của nhân dân. Vua Lê Uy Mục (1505 - 1509) được người đương thời gọi là vua qủy, Vua Lê Tương Dực (1510 - 1516) được gọi là vua lợn. Bọn qúy tộc đua nhau cướp đoạt ruộng đất của nông dân để xây cất cung điện, nhà cửa. Một chế độ độc đoán, chuyên quyền dẫn tới kẻ nào nắm quyền lực sẽ nắm được quyền cướp đoạt, chi phối kinh tế. Đúng như F. Ăngghen nói: Quyền lực chính trị bản thân nó không sản sinh ra kinh tế nhưng nó có tác dụng cướp đoạt kinh tế. Vì lẽ đó bọn mọt dân ra sức mua quan bán tước, kiên quyết phải làm quan bằng mọi giá để cướp bóc, đục khoét nhân dân. Quyền lực có thể giúp cho bọn mọt dân có thể cướp đoạt được mọi thứ, cũng là nguyên nhân dẫn tới cuộc đấu tranh khốc liệt trong nội bộ giai cấp cầm quyền để tranh giành quyền lực, dẫn tới xung đột, nội chiến giữa các tập đoàn phong kiến triền miên, liên tục, gây tổn hại, chết chóc, đau thương khổ cực vô cùng tận cho nhân dân, phá hoại sự thống nhất đất nước.

Những năm 20 của thế kỷ XVI tập đoàn phong kiến mạnh nhất khi đó là họ Mạc thâu tóm hết quyền hành vào tay. Tháng 12 năm 1526, Mạc Đăng Dung giết vua Lê Chiêu Tông. Ngày 15 thánh 6 năm 1527, Mạc Đăng Dung buộc vua Lê Cung Hoàng phải nhường ngôi cho Dung, sau đó vua và hoàng thái hậu bị Dung giết chết. Khi đó Lê Cung Hoàng mới 21 tuổi, ở ngôi được 5 năm.

Như vậy, thời Lê Sơ kể từ lúc chiến thắng quân Minh, Lê Thái Tổ lên ngôi vua năm 1428 đến Lê Cung Hoàng trải qua 10 đời vua, trị vì 100 năm. [1] Thời Lê Sơ kết thúc mở ra những trang đen tối trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Thời kỳ thịnh trị chấm dứt, thời kỳ suy thoái,  nội chiến bắt đầu với cục diện Nam - Bắc triều là biểu hiện đầu tiên. 10 đời vua thời Lê Sơ là:

1 Lê Thái Tổ (1428 - 1433) 5 năm. 2 Lê Thái Tông (1434 - 1442) 8 năm. 3 Lê Nhân Tông (1443 - 1459) 16 năm. 4 Lê Thánh Tông (1460-1497) 37 năm. 5 Lê Hiến Tông (1497 - 1504) 7 năm. 6 Lê Túc Tông (1504). 7 Lê Uy Mục (1505 - 1509) 4 năm. 8 Lê Tương Dực (1510 - 1516) 6 năm. 9 Lê Chiêu Tông (1516 - 1522) 6 năm. 10 Lê Cung Hoàng (1522 - 1527) 5 năm.

2. Nhà Lê Trung Hưng: Việc Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê chỉ vì quyền lợi ích kỷ của bản thân, của gia đình, dòng họ nên làm cho mâu thuẫn nội bộ giữa các tập đoàn phong kiến càng thêm gay gắt

Các tập đoàn phong kiến khác tìm cách chống đối nhà Mạc. Nguyễn Kim (quê ở Hà Trung, Thanh Hoá), một cựu thần nhà Lê đã tôn phò Lờ Duy Ninh, con của Lê Chiêu Tông lên ngôi vua tức là Lê Trang Tông, thành lập Nam Triều ở vùng núi phía Tây Thanh Hoá, giáp biên giới Lào - Việt. Với Lê Trang Tông, thời Lê Trung Hưng bắt đầu. Tháng 12 năm 1540, Nguyễn Kim kéo quân từ đất Lào đánh chiếm Nghệ An. Cuối năm 1543, Nam Triều chiếm Tây Đô (Thanh Hoá), cuộc nội chiến Nam - Bắc Triều bắt đầu và kéo dài gần 60 năm (1533 - 1592). Trong gần 60 năm Nam - Bắc Triều đã đánh nhau 38 trận lớn nhỏ, có những trận quân số mỗi bên huy động lên 10 vạn người, tàn sát nhau khủng khiếp. Năm 1545, Nguyễn Kim kéo quân đến Ninh Bình thì bị nội gián nhà Mạc là Dương Chấp Nhất đánh thuốc độc chết. Khi đó hai con trai của Nguyễn Kim còn nhỏ nên toàn bộ quyền lực ở Nam Triều vào tay con rể là Trịnh Kiểm (quê Vĩnh Lộc ,Thanh Hóa). Năm 1570, Trịnh Kiểm chết, con là Trịnh Tùng thay thế. Ngày 25 tháng 11 năm 1592, quân Trịnh phá tan quân Mạc ở Kim Thành, Thạch Hà (Hải Dương). Vua cuối cùng của nhà Mạc là Mạc Mậu Hợp bị giết chết. Nhà Mạc diệt vong. Từ Mạc Đăng Dung đến Mạc Mậu Hợp nhà Mạc trói qua 5 đời vua, trị vỡ 62 năm [2].
 
1 Mạc Đăng Dung (1527 - 1529) 2 năm. 2 Mạc Đăng Doanh (1530 - 1540) 10 năm. 3 Mạc Phúc Hải (1541 - 1546) 5 năm. 4 Mạc Phúc Nguyên (1546 - 1561) 15 năm. 5 Mạc Mậu Hợp (1562 - 1592) 30 năm. 

3. Vua Lê - Chúa Trịnh: Cục diện Nam - Bắc Triều kết thúc

Trịnh Tùng đem vua Lê về Thăng Long nhưng không trao chính quyền cho vua Lê mà biến triều đình nhà Lê thành hư vị. Trịnh Tùng buộc vua Lê phong cho mình Đô đốc nguyên suý Tổng quản quốc chính thượng phụ, tước Bình an vương. Trịnh Tùng chỉ cho vua Lê thu thuế 1000 xã, 5000 quân túc vệ, 7 con voi và 20 chiếc thuyền rồng. Trịnh Tùng cho thiết lập một triều đình riêng - Phủ Chúa và một bộ máy hành chính riêng thâu tóm toàn bộ quyền lực vào tay.

Cục diện Vua Lê - Chúa Trịnh manh nha từ thời Nam - Bắc triều bây giờ thành sự thực. Mâu thuẫn giữa hai tập đoàn phong kiến Lê - Trịnh thường bùng phát với xu hướng triều đình nhà Lê bị trấn áp, nhiều vua Lê bị chúa Trịnh giết hại. Năm 1572, Trịnh Tùng đã giết chết vua Lê Anh Tông (Lê Duy Bang) ở Lỗi Dương (Thanh Hoá) khi nhà vua mới 42 tuổi. Năm 1595, trước sự áp chế quá đáng của Trịnh Tùng, vua Lê Kính Tông mưu giết chúa Trịnh. Việc bại lộ, nhà vua bị Trịnh Tùng giết hại năm mới 32 tuổi. Từ đó, các vua Lê đành nuốt hận nhưng phải hoàn toàn khuất phục.

 

4. Cục diện Vua Lê, Chúa Trịnh Đàng Ngoài - Chúa Nguyễn Đàng Trong (1558 - 1784)

Trong khi cục diện Nam - Bắc Triều chưa kết thúc thì mâu thuẫn trong các tập đoàn phong kiến Nam Triều Trịnh - Nguyễn đã bùng phát. Sau khi thâu tóm quyền hành vào tay, Trịnh Kiểm đó giết chết em vợ là Nguyễn Uông (con Nguyễn Kim). Tính mệnh Nguyễn Hoàng, em Nguyễn Uông cũng bị đe doạ. Nghe theo lời Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân” (một dải Hoành Sơn có thể dung thân muôn đời), Nguyễn Hoàng nhờ chị gái là Nguyễn Thị Ngọc Bảo (vợ Trịnh Kiểm) xin Kiểm cho Hoàng vào trấn thủ đất Thuận Hoá. Trịnh Kiểm đồng ý với hi vọng Nguyễn Hoàng sẽ chết trong vùng đất khắc nghiệt.

Năm 1558, Nguyễn Hoàng khi đó mới 34 tuổi được phong làm trấn thủ Thuận Hoá (ngày nay bao gồm Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam). Hoàng đã đem theo nhiều nghĩa dũng đồng hương Thanh Hoá vào lập nghiệp đất Miền Trong. Từ năm 1558 đến năm 1619 là thời kỳ Nguyễn Hoàng và sau đó con là Nguyễn Phúc Nguyên ra sức xây dựng phát triển kinh tế, mở mang bờ cõi Miền Trong, xây dựng thực lực để trở thành một giang sơn riêng biệt. Mặt khác vẫn thần phục vua Lê - chúa Trịnh.

Từ năm 1619 trở đi khi thực lực đó mạnh, họ Nguyễn không phục tùng Lê - Trịnh nữa và bắt đầu cuộc nội chiến lâu dài khốc liệt giữa hai tập đoàn phong kiến lớn Trịnh - Nguyễn. Năm 1619, Trịnh Tùng đem quân chinh phạt họ Nguyễn mở đầu cho cuộc nội chiến. Từ năm 1627 đến năm 1672, hai bên đó 7 lần đánh nhau. Các vùng Quảng Bình, Nghệ An quanh năm bị biến thành bãi chiến trường núi xương, sông máu, gây bao nhiêu tang tóc đau thương cho nhân dân hai miền Nam - Bắc. Cuộc nội chiến kéo dài hàng trăm năm không phân thắng bại, cuối cùng hai bên phải lấy sông Gianh (Quảng Bình) làm ranh giới, phía bắc sông Gianh trở ra gọi là Đàng Ngoài, phía Nam sông Gianh trở vào đến đất mũi Cà Mau gọi là Đàng Trong. Sự thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của đất nước bị các tập đoàn phong kiến phá vỡ vì quyền lợi ích kỷ của mình.

Trong suốt thế kỷ XVII, các chúa Nguyễn nhân cơ hội quốc gia Chiêm Thành ở phía Nam suy vong, tiến hành mở rộng lãnh thổ từ Quảng Ngãi xuống Bình Thuận. Phía nam Bình Thuận là Thuỷ Chân Lạp của vương quốc Chân Lạp cũng đang trên đường suy vong tạo ra khoảng trống quyền lực, đất đai hoang hoá. Các chúa Nguyễn tiếp tục cho cư dân tiến vào phía Nam khai hoang phục hoá mở rộng lãnh thổ Đàng Trong đến Mũi Cà Mau-Rạch Gía vào cuối thế kỷ XVII.


Sang thế kỷ XVIII, chế độ phong kiến Việt Nam bước vào cuộc khủng hoảng toàn diện và ngày càng sâu sắc. Ở Đàng Ngoài, tầng lớp cầm quyền ngày càng hủ bại. Mọi chính sách của nhà nước đều chỉ nhằm một mục đích duy nhất củng cố vơ vét quyền lợi cho tập đoàn thống trị, vì thế các chính sách đều mang tính chất phản động. Phủ Chúa nắm toàn bộ quyền lực, tiêu phí không biết bao nhiêu tiền bạc, công sức của nhân dân vào xây cất các công trình nguy nga tráng lệ, vào các cuộc ăn chơi sa đoạ, tuần du tốn kém. Toàn bộ quan lại từ Trung ương đến địa phương vùi đầu trong cuộc sống xa hoa, bon chen, truỵ lạc, vô cảm trước sự đau khổ cùng cực của nhân dân. Quan lại thì ra sức xu nịnh cấp trên để được bao che, dung túng, bòn rút của nhà nước, của nhân dân để làm giàu. Tệ hoạn quan lộng hành, tệ mua bán bằng cấp, tệ mua quan bán chức được nhà nước công khai chấp nhận như một thể chế lựa chọn nhân sự vào bộ máy chính quyền. Tệ tham ô, hối lộ nhũng nhiễu đục khoét nhân dân được nhà nước làm ngơ và thừa nhận.

Cha ông ta nói: “Nhà dột từ nóc”. Một nhà nước khi triều đình trung ương đó hủ bại thì quan lại địa phương cường hào ác bá mặc sức hoành hành. Chúng thâu tóm quyền hành, tác oai tác quái, bòn rút của cải, tiền bạc, cướp đoạt những mảnh đất cuối cùng của nông dân. Chúng bày đặt lắm mưu, nhiều kế độc ác gian xảo, vu oan giáng hoạ hãm hại người lương thiện, oan khốc đầy trời mà không biết kêu ở nơi nào cho thấu.


Chính trị mục nát đó làm cho đạo đức, kỷ cương, đạo lý của Nho giáo sụp đổ. Những nguyên lý trong kinh điển Nho gia chỉ còn là những lời nói rỗng tuếch lừa bịp, mị dân. Bộ máy nhà nước do mua quan bán tước trở nên cồng kềnh đông đúc mà không được lương bổng hoặc lương bổng thấp nên càng ra sức đục khoét nhân dân. Như ở Đàng Trong một xã có đến 20 xã trưởng. Chế độ Trịnh - Nguyễn tăng thuế má lên một cách khủng khiếp. Nhà nước ước tính số chi trước để định ra mức thu, bất chấp những khó khăn thực tế, những nỗi cùng khổ của nhân dân. Ví như thuế đinh chỉ cần kiểm tra dân số một lần và ấn định mức thu lâu dài cho các xã. Thành thử những người còn sống, những người ở lại phải đóng cả thuế cho những người đó chết, những người bỏ làng phiêu bạt.

Các chính quyền Trịnh - Nguyễn khi đó với chính sách “ức thương” phản động bóp chết tất cả những mầm mống của kinh tế hàng hoá: độc quyền thủ công nghiệp, đánh thuế rất nặng các nghề thủ công tư nhân khiến họ bị vùi dập không phát triển lên được, không chuyến dịch được cơ cấu thủ công nghiệp sang kinh tế hàng hoá thị trường. Trong thương mại đối ngoại, các tập đoàn phong kiến ra sức bế quan toả cảng, khước từ giao lưu buôn bán với các nước tư bản phương Tây như Hà Lan, Pháp... khi đó có mặt ở Việt Nam. Chính sách bế quan toả cảng mù quáng, bảo thủ của các chính quyền phong kiến đã giam hãm đất nước trong vòng lạc hậu, bỏ qua vận hội, không tận dụng được những yếu tố bên ngoài để phát triển theo chiều hướng tiến bộ. Chính sách phản động đó đưa đến kết quả mất nước vào nửa sau thế kỷ XIX khi bị thực dân Pháp tấn công xâm lược.

Như vậy qua 500 năm xây dựng và phát triển, vào thế kỷ XVI, chế độ phong kiến Việt Nam bắt đầu suy thoái và vào thế kỷ XVIII bước vào cuộc khủng hoảng toàn diện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, xã hội, kinh tế, tư tưởng, đạo đức. Các tập đoàn phong kiến chỉ biết quan tâm đến quyền lợi của bản thân gia đình và dũng họ, gây nội chiến chiến tranh tranh giành quyền lực, phá vỡ sự thống nhất đất nước, cam tâm bóc lột nhân dân một cách tàn bạo để ăn chơi sa đoạ, đẩy nhân dân vào con đương khổ nhục, đói khát, mất ruộng đất nhà cửa, phiêu tán, chết chóc do đói khổ, chiến tranh. Chính sách phản động của nhà nước phong kiến đó triệt tiêu nền kinh tế hàng hoá thị trường, những nhân tố kinh tế tư bản chủ nghĩa không ra đời được, tức là Việt Nam vào thế kỷ XVIII vẫn không có những nhân tố mới để đưa xã hội phát triển theo chiều hướng tiến bộ chung của thời đại khi đó. Việt Nam vẫn bị giam hãm trong vòng xã hội phong kiến cực kỳ thối nát. Nguyên nhân khủng hoảng của chế độ phong kiến nằm ngay trong tư tưởng ích kỷ của giai cấp cầm quyền, thói tham lam vô hạn độ đó làm cho chúng không còn tư tưởng vì dân vì nước, quên mất đạo đức thánh hiền, quên mất nguyên lý “Dân vi bản”. Trong các thế kỷ này, tư tưởng cá nhân, dòng họ, tập đoàn chi phối toàn bộ các hoạt động, các chính sách của nhà nước. Cả dân tộc và nhân dân là nạn nhân của chính sách ích kỷ ấy của giai cấp cầm quyền.

(Còn nữa)
-------------------------
 
[1] . Quỳnh Cư - Đỗ Đức Hùng: Các triều đại Việt nam,sách đó dẫn,tr.175-176.
 
[2] Quỳnh Cư - Đỗ Đức Hùng: Các triều đại Việt nam,sách đó dẫn,trang 194.
 
PGS TS Cao Văn Liên
CHIA SẺ ĐẾN BẠN BÈ: