HOTLINE: 0904 89 4444

Linh thiêng Đền Quả Sơn
(Phương Nam Plus) - Có dịp, chúng ta nên một lần về với Đền Quả Sơn, để nghe dân chúng nơi đây thủ thỉ những giai thoại vè Ngài – Uy Minh Vương Lý Nhật Quang...
17:01 29-12-2019


Đền Quả Sơn (xã Bồi Sơn, huyện Đô Lương) một trong tứ đại thắng tích, đệ nhất danh thiêng của Nghệ An. 

“Hiển hách thần linh hương khói miếu đền lưu vạn đại/ Lừng danh tông tộc núi sông ghi nhớ mãi ngàn năm”.

Đền Quả Sơn toạ lạc dưới chân núi Quả thuộc địa phận làng Miếu Đường, xã Bạch Ngọc (nay là xã Bồi Sơn) huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Thần được thờ trong Đền Quả Sơn là Uy Minh Vương Lý Nhật Quang - con trai thứ 8 của vua Thái tổ Lý Công Uẩn người sáng lập ra triều nhà Lý năm 1009, hai bên thờ hai tướng đi theo phò tá Uy Minh là Dực Thánh Vương và Đông Chinh Vương. 

Uy Minh Vương Lý Nhật Quang

Về đến núi Quả nơi Uy Minh Vương Lý Nhật Quang được nhân dân dựng đền thờ để nghe những mẩu chuyện về Ngài. Cái rét lạnh rít từng cơn khi vừa chớm đông, bên bờ sông Lam đền Quả sừng sững, uy linh. 

Uy Minh Vương Lý Nhật Quang đã được các nhà sử học đề cao, được xếp là một trong 9 vị danh nhân của đất nước Đại Việt. Tác phẩm "Việt Điện u linh" của Lý Thế Xuyên nói về Lý Nhật Quang với một ngôn từ rất trang trọng "một đại phúc thần cải châu, trung trực, liêm khiết" và đặc biệt về xếp thứ tự, theo quan niệm của Lý Thế Xuyên, những vị thần nào công đức lớn hơn được xếp trên sau các vị vua và các đại thần chứ không xếp theo thời gian, thì Uy Minh Vương Lý Nhật Quang được viết đầu tiên trên cả Lý Thường Kiệt (Lý Thường Kiệt là bậc cháu của Lý Nhật Quang).
 

Lý Nhật Quang là con trai thứ 8 của vua Lý Công Uẩn, còn gọi là Lý Thái Tổ. Ông vốn là người thông minh hiếu học, đức trọng tài cao, yêu nước thương dân sâu sắc. Năm 1039 ông được nhà vua cử vào trông coi việc tô thuế tại vùng đất Nghệ An với tước hiệu Uy Minh Thái Tử. Tính nghiêm cẩn và liêm trực, không tơ hào của dân nên ông rất được nhân dân Hoan Châu mến mộ. Năm 1041, ông được bổ nhiệm làm tri châu Nghệ An với hiệu Uy Minh Hầu Lý Nhật Quang. Đây là điểm mốc quan trọng khẳng định vai trò và ảnh hưởng to lớn của Lý Nhật Quang với vùng đất Nghệ An, nhất là khi tỉnh Nghệ An đã quyết định lấy năm 1041 là năm thành lập tỉnh. Năm 1044, vua Lý Thái Tông đã phong cho Lý nhật Quang từ tước Hầu lên tước Vương thành Uy Minh Vương Lý Nhật Quang và ban cho ông quyền Tiết Việt (tức là có quyền thay mặt nhà vua, được vua tin cậy và uỷ thác quyền định đoạt mọi chuyện chính sự tại Nghệ An).

Với trọng trách được giao, đứng đầu và tri nhân Nghệ An. Lý Nhật Quang đã thể hiện tài kinh bang tế thế, dùng uy chế ngự, dùng âm để vỗ yên, dùng chất sinh khoan giản và an lạc, tức là khoan dung, giản dị, gần gũi nhân dân, minh bạch các chế độ tô thuế, lấy việc dân no ấm yên vui hạnh phúc làm gốc của việc cai trị. 
 

Để phát triển kinh tế, Ngài cho chiếu dụ dân lưu tán từ các vùng đất khác về khai khẩn đất hoang, lập nhiều làng ấp mới. Tiếp nhận tù binh chiến tranh để lập nhiều làng ấp ở vùng Tương Dương, Con Cuông để họ được sinh sống bình thường. Ngài đã tiến hành hàng loạt các biện pháp khuyến nông như dạy cho dân nghèo trồng dâu nuôi tằm, dệt lụa, mở rộng chăn nuôi, phát triển nhiều nghành nghề thủ công; Cho xây dựng nhiều công trình thuỷ lợi, khai thông luồng lạch, đào sông để phát triển đường thuỷ, mở nhiều đường bộ giao thương với các vùng. Tương truyền Ngài đã cho mở đường thượng đạo sang biên giới Việt - Lào (tức đường 7 ngày nay); Mở đường thượng đạo nối từ Đô Lương ra tới Thăng Long và có rất nhiều đoạn đường với đường Hồ Chí Minh thời chiến tranh chống Mỹ. Ngài còn cho phát triển các ngành khai mỏ, luyện kim, rèn sắt, đóng thuyền. Nhiều làng nghề ở Nghệ An và Hà Tĩnh ngày nay có từ thời Lý Nhật Quang đã kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế với quốc phòng bằng việc thời bình thì sản xuất nông cụ, thời chiến thì sản xuất vũ khí.

Bên cạnh việc phát triển kinh tế, Lý Nhật Quang càng chăm lo đến sự nghiệp giáo dục, văn hoá, ngài cho mở nhiều trường học, xây dựng nhiều đền chùa. Dưới thời Lý Nhật Quang làm tri châu tại Nghệ An đã có 18 người đỗ đạt khoa bảng, trong đó có 4 Trạng Nguyên, 3 Thám Hoa, 2 Hoàng Giáp, 5 Tiến Sỹ, 4 Phó Bảng. Tại xã Nhân Bồi hiện còn dấu tích của những nơi diễn trò hát xướng; Nhiều câu ví dặm lưu truyền đến ngày nay được cho là có từ những gánh hát dưới thời Lý Nhật Quang:

Muốn ăn khoai sọ chấm đường
Xuống đây mà ngược đò lường cùng anh
Đò lường bến nước trong xanh

Gạo ngon lúa tốt bến thành ngược xuôi.

Hay:

Đô Lương dệt gấm, thêu hoa
Quỳnh đôi tơ lụa, thủ khoa ba đời.

Những câu ví đò đưa, phường vải đã cho thấy sự sôi động của các hoạt động kinh tế văn hoá tại Nghệ An thời bấy giờ.

Về quân sự, Ngài cho xây dựng đội quân Nghiêm Thắng theo hướng “ngụ binh ư nông”, lúc cần thì tham gia chiến đấu, bảo vệ bờ cõi, trật tự an ninh tổ quốc; xây dựng căn cứ thuỷ quân ở Lạch Cờn - Quỳnh Lưu canh giữ một vùng biển rộng lớn, ngăn chặn các cuộc xâm lấn của quân Chiêm Thành. Bên cạnh đội quân chủ lực, ông còn xây dựng các đội dân binh để bảo vệ trật tự trị an ở cơ sở làng xã. Dưới thời Lý Nhật Quang, Triều đình không phải đưa quân trung ương vào đồn trú mà lực lượng tại chỗ đủ sức đảm bảo xây dựng Nghệ An thành “Thành đồng vách sắt”.
 

Có thể nói, suốt 16 năm trị nhậm ở Nghệ An, Lý Nhật Quang đã có công rất lớn trong việc củng cố, xây dựng Nghệ An từ mảnh đất phên dậu, một vùng Biên viễn được xếp vào diện “Trại” trở thành một trọng trấn, thành căn cứ then chốt, một pháo đài kiên cố cả về quân sự, kinh tế và chỗ dựa lòng người không chỉ đối với nhà Lý mà cả các triều Trần, Lê sau này.

Khi được cử làm tri châu Nghệ An, Lý Nhật Quang đã quyết định chọn Bạch Đường làm Phủ luỵ. Theo sách tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ 19 thì Phủ Bạch Đường thời Lý gồm các thôn Nhân Trung, Phúc An, Nhân Bồi, Miêu Đường; đời Ngô thuộc quận Cửu Đức, thời tiền Lê thuộc đất Hoan Đường. Địa danh Bạch Đường chính thức đi và chính sử, đi vào huyền thoại, đi vào dân ca, trở thành một “linh địa” của xứ nghệ kể từ năm 1044 khi Uy Minh Vương Lý Nhật Quang chọn mảnh đất này xây dựng thành trung tâm hành chính, kinh tế và quân sự phía nam của vùng Biên viễn Đại Việt. Đến cuối thế kỷ 19, để tránh tên huý của vua Đồng Khánh, Bạch Đường được đổi tên thành xã Bạch Ngọc. Vào năm 1953, xã Bạch Ngọc được chia làm 3 xã: Ngọc Sơn, Lam Sơn, Bồi Sơn như ngày nay. Với vị trí “Tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ” do thế tựa núi kề sông, thuận tiện cho việc giao thương buôn bán với các vùng miền để phát triển kinh tế chọn Bạch Ngọc làm lỵ sở, Lý Nhật Quang vừa kiểm soát được an ninh quốc phòng cả vùng Hoan Châu, vừa có thể khai thác cả một vùng đồng bằng rộng lớn để phát triển kinh tế, tích trữ lương thảo, khai thác lâm thủy sản. Công đức của Ngài Lý Nhật Quang đối với Nghệ An nói chung, vùng đất Bạch Ngọc nói riêng thật là to lớn.
 



“Sống đánh giặc, chết hiển linh đánh giặc”

Năm 1057, Uy Minh Vương Lý Nhật Quang quy hóa và hiển thánh ngay dưới chân núi Quả, nhân dân xứ Nghệ vô cùng thương tiếc, khóc than như khóc cha mẹ mình. Sau khi ông mất, nhân dân trong vùng nhớ ơn và lập đền thờ ông đúng nơi ông đã quy hoá và hiển thánh, gọi là Đền Quả Sơn. Chuyện còn ghi lại, sau khi quy hoá, lý Nhật Quang đã hiển thánh và luôn phù hộ cho triều đình đánh thắng nhiều kẻ thù xâm lược, nên các triều đại về sau, mỗi khi xuất quân đánh giặc đều về Đền Quả Sơn thắp hương cầu ngài phù hộ và sau khi thắng trận, lại về đền thắp hương tạ lễ báo công. Người ta nói, Lý Nhật Quang sống đánh giặc, chết hiển linh đánh giặc là như vậy.

Cùng với thờ Uy Minh Vương Lý Nhật Quang, Đền Quả Sơn còn thờ Đông Chinh Vương và Dực Thánh Vương là 2 hoàng tử nhà Lý, anh em của Lý Nhật Quang được nhà Vua cử vào giúp Lý Nhật Nhật Quang trong thực hiện việc chính sự.

Như vậy từ thế kỷ 11, đã có 3 Hoàng tử nhà Lý trấn thủ ở vùng đất Nghệ An biên viễn và hiểm yếu này, tạo cơ sở vững chắc cho nhà Lý và các triều đại về sau củng cố và xây dựng Quốc gia Đại Việt ngày càng vững mạnh. Lễ hội đền Quả Sơn ở Đô Lương là hoạt động có ý nghĩa sâu sắc, thể hiện tấm lòng của cấp uỷ, chính quyền và nhân dân tỉnh Nghệ An nhằm tri ân nhà Lý, hướng về Thăng Long văn hiến.

Trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử, Đền Quả Sơn đã được các triều đại phong kiến xây dựng và trùng tu tôn tạo nhiều lần. Năm 1073, khi Lý Đạo Thành được cử làm Tri châu Nghệ An, ông đã dâng sớ lên triều đình nhà Lý miễn tô thuế vùng Bạch Ngọc để chăm lo hương khói cho Đền Quả Sơn. Đền Quả Sơn được xem là một trong những đệ nhất danh thiêng của xứ Nghệ. Năm 1953, bom đạn của thực dân Pháp đã làm cho đền bị phá hoại nghiêm trọng. Tưởng nhớ công lao to lớn của Uy Minh Vương Lý Nhật Quang, người dân Bạch Ngọc và Xứ Nghệ đã rước di tượng của Ngài cùng ngai vị của Đông Chinh Vương, Dực Thánh Vương về chùa Nhân Bồi để bảo vệ và chăm lo hương khói. Nhiều đồ tế khí quý giá của Đền được nhân dân đưa về nhà cất giữ cẩn thận, nguyên vẹn sau này đã tự nguyện mang lại đền, Vì vậy chùa Nhân Bồi, chùa Bà Bụt hiện là những di tích cơ bản, quan trọng gắn liền không thể tách rời với di tích lịch sử Đền Quả Sơn.

Kiến trúc thời Lý - Trần

Đền Quả Sơn được xây dựng từ đầu thế kỷ XI, được liệt vào hàng “quốc tế, quốc tạo”, sau đó được trùng tu và nâng cấp nhiều lần vào thời Hậu Lê, Nguyễn. Đến đầu thế kỷ thứ 20, ngôi đền có quy mô 7 toà 42 gian mang phong cách kiến trúc thời Lý - Trần đã được xếp vào hạng Quốc tế và Quốc tạo, tức là nhà nước đứng ra tế lễ và xây dựng, là một trong “tứ đại thắng tích” (Đền Cờn, đền Quả, Bạch Mã, Chiêu Trưng), “đệ nhất danh thiêng” của xứ Nghệ. Trải qua chiến tranh, hầu hết các công trình kiến trúc gốc của đền đều bị phá hủy. Đến thời hậu Lê thì diện mạo của đền có quy mô lớn gồm ba toà chính điện (thượng, trung, hạ điện), tả vu, hữu vu, lầu ca vũ, nhà hoả, nhà canh, tam quan. Trong đền có di tượng Lý Nhật Quang làm bằng gỗ quý, sơn son thiếp vàng, mặc áo bào bằng lụa vàng, có nhiều đồ tế khí chạm khắc tinh vi, đạt trình độ điêu khắc cao, do vua chúa nhiều triều đại ban tặng hoặc nhân dân tiến cúng. Phần mộ đức thánh Uy Minh Vương Lý Nhật Quang, có nhà bia, có nhà ngựa và ông ngựa, có cổng Tam quan và hàng nghìn cổ vật, bằng bạc, đồng và gỗ, đặc biệt có di tượng cổ độc bản về Uy Minh Vương Lý Nhật Quang, các long ngai, tế khí thời Lý...

Lễ hội đền Quả Sơn

Đền Quả Sơn được Bộ Văn hóa, Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia năm 1998 với diện tích hơn 4 ha. Lễ hội đền Quả Sơn là lễ hội vùng lớn vào loại bậc nhất ở Nghệ An. Lễ hội được diễn ra trong 3 ngày 19, 20 và 21 tháng giêng âm lịch hàng năm để tưởng nhớ tới công đức của Uy Minh Vương Lý Nhật Quang – vị danh tướng, danh thần của vương triều Lý đã có công lớn trong việc bảo quốc an dân, củng cố nền độc lập, thông nhất đất nước ở thế ký XI (1039 – 1055). Tương truyền, xưa kia, trước khi Ngài đi đánh giặc thì thường lên Tiên Tích Tự (Chùa Bà Bụt) để khẩn cầu. Và sau khi đánh giặc về đều lên Tiên Tích Tự để báo công. Chính vì thế, trong lễ rước bao giờ cũng rước từ đền Thánh lên chùa Bà Bụt là vậy. Lễ rước tại đền Quả rất đặc biệt, rước đường sông và rước đường bộ (phỏng theo ngày xưa Ngài đi đánh giặc). Đây là hoạt động nhằm tái diễn lại ngày xưa Ngài luyện quân thủy, tạo hào khí chiến đấu. Lễ chính của Ngài được tổ chức vào ngày 17/12 (âm lịch). 

Đây là lễ hội dân gian đặc sắc, hấp dẫn và mang nhiều ý nghĩa nhân văn, thể hiện tinh thần đạo lý truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, làm sống động tinh thần thượng võ cùng những thuần phong mỹ tục của nền văn hoá dân gian.

Ngày nay, ngoài các trò chơi dân gian và nghệ thuật dân tộc như đánh đu tiên, chọi gà, cờ thẻ, cờ người, đấu vật, múa võ, đặc sắc nhất là đua thuyền bơi chải xuôi ngược dòng Lam, hát chầu văn, ca trù, diễn các tích chèo, tuồng cổ…Lễ hội còn tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục , thể thao như : Biểu diễn nghệ thuật, chiếu phim, cắm trại, triển lãm, trưng bày bán các loại ấn phẩm văn hoá, tổ chức thi đấu bóng đá, bóng chuyền, đi tham quan các di tích danh thắng trong vùng.

Có dịp, chúng ta nên một lần về với Đền Quả Sơn, để nghe dân chúng nơi đây thủ thỉ những giai thoại vè Ngài – Uy Minh Vương Lý Nhật Quang, để hòa mình vào phần lễ hội, để thả mình vào những trò chơi dân gian được tổ chức. Hơn cả, để mắt thấy tai nghe một trong tứ đại thắng tích, và đệ nhất danh thiêng - Đền Quả Sơn. 
 
Nguyễn Diệu
CHIA SẺ ĐẾN BẠN BÈ: