HOTLINE: 0904 89 4444

Nét văn hoá Nghệ qua câu chuyện làng nghề
(Phương Nam Plus) - Hiện nay Nghệ An có 152 làng nghề và khoảng 300 làng có nghề. Số làng nghề này rất đa dạng về loại hình từ sản xuất mỹ nghệ, may mặc, tiêu dùng cho đến thực phẩm... Mỗi làng nghề đều có những câu chuyện hấp dẫn riêng, chứa đựng những giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc cũng như nhân sinh quan của người Nghệ.
15:42 13-07-2020


Tương Nam Đàn

Phong phú câu chuyện làng nghề

Xóm Quy Chính 1 và 2 xã Vân Diên, huyện Nam Đàn được công nhận làng nghề từ năm 2006, làng có truyền thống làm nghề sản xuất miến gạo từ lâu đời. Miến gạo ở đây được làm hoàn toàn từ gạo khang dân sạch 100% không chất bảo quản, chất tạo độ dai và độ sáng. Sản phẩm miến được thiết kế với nhiều hình dáng: Miến vuông, miến bó sợi, miến cuộn tròn … Tùy vào mục đích chế biến và sở thích mà người tiêu dùng có thể dễ dàng chọn mua những loại miến với hình dáng đó và chế biến được nhiều kiểu như nấu canh, miến xào, miến trộn. Và nghề chế  biến miến gạo đang tạo công ăn việc làm, giúp nhiều gia đình làm giàu chính đáng. Sản phẩm miến của làng được tiêu thụ ở nhiều nơi như Thanh Chương, Nghĩa Đàn, Quỳnh Lưu, Vinh, Hà Tĩnh… Miến gạo Quy Chính được xem như một trong những “báu vật” của huyện Nam Đàn.

Bên cạnh nghề làm miến, nghề làm tương ở khối Phan Bội Châu, thị trấn Nam Đàn cũng có từ lâu đời. Người xưa khi chế biến món tương là dùng để chan cơm, ăn hàng ngày. Nguyên liệu chính để làm tương là đậu nành, nếp hoặc ngô được trồng trên bãi bồi ven sông Lam, muối và nước. Để có được chum tương ngon, đòi hỏi ở người làm tương sự kỳ công, tỷ mẩn trong các quy trình, bí quyết thủ công truyền thống từ làm mốc, ngạ tương. Tương ngon là khi giở ra ngoài mùi thơm nức còn phải có màu vàng rơm hoặc màu cánh gián. Khi ăn bát cơm chan tương, ta cảm nhận được vị mát lành của hương phù sa trong từng hạt đỗ, hương thơm của ruộng đồng trong nếp xôi, vị mặn mòi của biển cả trong hạt muối và vị nồng ấm của mạch đất quê hương qua từng giọt nước. 

Ngày nay, tương Nam Đàn trở thành đặc sản, có mặt trong các nhà hàng sang trọng, theo chân con người vào Nam, ra Bắc. Với nguồn nguyên liệu dồi dào, nhân công dày dặn kinh nghiệm, hiện nay, làm tương là một trong những nghề mang lại thu nhập cao, giải quyết việc làm cho nhiều lao động nông thôn, sản phẩm đã khẳng định được uy tín trên thị trường cả nước.

Bên cạnh nước tương, nước mắm Vạn Phần cũng là hương vị đậm đà khó quên của xứ Nghệ. Nằm trên địa bàn huyện Diễn Châu, Vạn Phần là làng nghề làm nước mắm có truyền thống nổi tiếng từ vài thế kỉ trước. Sản phẩm của làng nghề đã từng có vinh dự là đặc sản “Tiến Vua”.
 


Sản xuất nước mắm Vạn Phần

Không ai rõ nghề làm nước mắm xuất hiện tại đất Vạn Phần xưa tự bao giờ, chỉ biết rằng, nơi khởi nguồn được xác định là ở xã Diễn Vạn, huyện Diễn Châu. Những tổ nghề từ xa xưa đã biết tận dụng nguồn nguyên liệu dồi dào từ biển cả, kết hợp với phương pháp ủ chượp truyền thống để cho ra loại nước mắm thơm ngon. Dần dần, làm nước mắm trở thành nghề truyền thống của địa phương theo hình thức cha truyền con nối. Nguyên liệu chế biến nước mắm Vạn Phần thường là cá nục, cá thu, cá cơm, cá hồi, cá vảnh, cá trích được chọn lọc một cách kỹ lưỡng.
 

Sau khi đánh bắt từ ngoài khơi về, cá được rửa sạch rồi đem trộn muối theo tỷ lệ 4:1 (cứ một tạ cá thì trộn khoảng 25 kg muối). Muối nguyên liệu thường là muối cũ, được để qua thời gian dài nhằm giảm bớt độ chát; đồng thời, phải sạch, không lẫn bụi bẩn. Việc chọn muối khá quan trọng, bởi nếu lẫn tạp chất, nước mắm thành phẩm sẽ có vị chát, không ngon. Với quy trình chưng cất cầu kỳ, kéo dài có khi cả một năm, nước mắm Vạn Phần là sự tổng hòa giữa vị mặn của muối, vị ngọt béo của cá tươi, mùi thơm của nắng, vị nồng nhưng không chát… Nước mắm càng đề lâu càng ngon, màu trong, vàng sậm, sánh đặc.

Từ Diễn Châu, chúng ta ngược lên Đô Lương, nơi nổi tiếng với làng nghề  nồi đất Trù Sơn. Làng Trù Sơn, còn gọi là làng Nồi, xưa thuộc Trù Ú, cách thị trấn Đô Lương 20km về phía Đông Nam; nghề chính của làng là trồng lúa, nghề phụ là làm gốm “vắt đất làm nồi”. Theo các nhà nghiên cứu ở Bảo tàng Dân tộc học, Trù Sơn là làng nghề nồi đất vào loại cổ nhất trên toàn quốc. Nhiều tài liệu cho thấy nghề làm gốm có ở Trù Sơn từ đời Trần, khoảng thế kỷ 13.
 


Hồn đất Trù Sơn

Khác với Phù Lãng hay Bát Tràng, nghệ nhân làm nồi đất ở Trù Sơn có những cách thức, kỹ thuật khéo léo, kỹ xảo riêng để làm nên những sản phẩm nồi đa dạng, đa dụng trong cuộc sống. Những hòn đất sét có màu đỏ, dẻo qua bàn tay thô ráp nhồi nặn của người thợ, qua lửa khói nung lên, rồi trở thành những nồi, niêu, chảo, ấm; rồi lên xe thồ và “phủ sóng” cả nước. Những niêu, nồi đất đã lên núi ngâm nhuộm thổ cẩm; ra thành thị vào các nhà hàng khách sạn để nấu cơm, kho cá; trở thành chậu nuôi phong lan, dụng cụ sắc thuốc Bắc. Ước có khoảng 30 loại nồi với kích cỡ, chủng loại khác nhau được làm ra ở làng Trù Sơn. Đặc điểm khá riêng biệt của dòng gốm này là đơn giản, thô mộc, không men tráng và hoàn toàn không có dấu hiệu của nghệ thuật trang trí. Tuy nhiên, gốm Trù Sơn có những ưu điểm rõ rệt về độ mỏng và nhẹ. Với độ mỏng lý tưởng đó thì độ thấm nước gần như không có.

Đến với làng nghề Trù Sơn hôm nay, du khách sẽ được tham quan thực nghiệm nghề “vắt đất làm nồi”. Dân làng ai ai cũng nhiệt tình với khách, vui vẻ sẻ chia trình diễn các công đoạn nhồi đất, tạo hình, làm nhẵn với kỹ thuật khéo léo, tỉ mỉ. Ngoài sự hiếu khách, người dân xã Trù Sơn đã có cách làm hay để thu hút sự chú ý đến nghề làm nồi đất của mình, đó là: Hàng năm, chào đón Lễ Giáng sinh, bà con vẫn thường làm một cây thông Noel khổng lồ từ các nồi đất thật ấn tượng, mang đậm bản sắc địa phương. Đặt biệt, cây thông Noel nồi đất năm 2017 cao 25m của Trù Sơn đã được Tổ chức Kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục “Cây thông Noel ghép bằng nồi đất lớn nhất Việt Nam”.

Về với niền Tây Nghệ An, chúng ta lại được chiêm ngưỡng vẻ đẹp độc đáo của  làng nghề dệt thổ cẩm. Từ Quốc lộ 7 vào bản Xiềng (xã Môn Sơn, Con Cuông), mất 20km đường quanh co. Bản Xiềng có 100% số hộ là dân tộc Thái, với những ngôi nhà sàn cổ kính, nằm dọc theo con đường đến trung tâm xã và thắng cảnh Đập Phà Lài. Với bản tính siêng năng cần cù, ngoài sản xuất nông nghiệp, người dân nơi đây bao đời nay vẫn cần mẫn, gìn giữ và phát triển dệt thổ cẩm, đan lát..

Nghề dệt ở thổ cẩm có từ Làng Xiềng từ rất lâu đời. Trước đây, do sản xuất nhỏ lẻ chỉ mang tính chất phục vụ gia đình nên sản phẩm của bà con làm ra chưa mang lại giá trị cao về kinh tế. Từ năm 2014, nghề dệt thổ cẩm đã có bước phát triển mới. Các thợ dệt được đào tạo bài bản, được cấp chứng chỉ nghề. Tháng 3/2017, UBND tỉnh Nghệ An đã cấp Bằng công nhận làng nghề dệt thổ cẩm bản Làng Xiềng. Đây cũng là làng nghề thổ cẩm đầu tiên của huyện Con Cuông.

Đến làng nghề dệt thổ cẩm bản Làng Xiềng, xã Môn Sơn, huyện Con Cuông, du khách sẽ được chiêm ngưỡng nhiều loại sản phẩm như: khăn, váy, áo… với những nét họa tiết, hoa văn phong phú mang giá trị nghệ thuật cao, phản ánh tay nghề khéo léo của những người thợ lành nghề và nghệ nhân. Nhiều hoa văn được truyền lại từ hàng trăm năm trước, qua người mẹ truyền cho con gái hoặc con dâu. Các hoa văn mô phỏng các con vật, loài cây trên rừng, hay các vì sao trên trời, nghĩa là tất cả những gì gần gũi, thân thuộc với người Thái, với triết lý sống hòa hợp với thiên nhiên được người dân đưa vào sản phẩm.

Trên cơ sở được công nhận là làng nghề; cộng thêm những cảnh quan của một làng thuần Thái cổ, Làng Xiềng được xác định là điểm nhấn về du lịch cộng đồng, du lịch làng nghề của huyện Con Cuông.

Nghề dệt thổ cẩm cũng là một nghề mang đậm dấu ấn truyền thống của đồng bào người Thái ở xã Châu Tiến, huyện Quỳ Châu. Nghề hình thành từ hàng trăm năm trước, như một phần không thể thiếu trong đời sống của bà con. Ở Hoa Tiến nhà nào cũng có khung dệt, không những người già, trung niên mà kể cả những bé gái đều biết dệt, thêu thổ cẩm. Vào dịp cuối năm hay sắp đến ngày lễ hội không khí bản làng lại rộn hẳn lên. Bằng đôi bàn tay khéo léo, các bà, các chị đã cho ra thị trường hàng trăm sản phẩm phong phú, đa dạng, từ thổ cẩm tấm, quần áo, ga trải giường, khăn trải bàn cho đến những chiếc cặp, chiếc ví, cà vạt, khăn quàng cổ, đội đầu với những nét hoa văn tinh tế và độc đáo.

Chính vì được nhuộm bằng các loại cây rừng nên thổ cẩm có màu sắc tự nhiên, không giống với bất kỳ sản phẩm thổ cẩm của các vùng, miền khác. Thổ cẩm Hoa Tiến rất được du khách ưa chuộng, nhất là khách du lịch quốc tế. Hiện, thổ cẩm Hoa Tiến đã có mặt ở các hội chợ thương mại lớn tổ chức tại Hà Nội, phố cổ Hội An, sang cả Lào, Thái Lan.

Một trong những làng nghề độc đáo, có từ lâu đời tại Nghệ An đó là làng nghề đóng tàu thuyền ở Trung Kiên. Làng Trung Kiên có tên cổ là Hùng Lao (Hoàng Lao), nằm ở cửa sông Cấm, thuộc địa phận xã Nghi Thiết, huyện Nghi Lộc. Nghề đóng tàu thuyền ở đây có khoảng từ 700 năm trước. Đến thời Vua Lê Thánh Tông, thợ Hoàng Lao được huy động để đóng và sửa chữa thuyền cho hạm đội hải binh đóng tại Cửa Lò, làm căn cứ để bảo vệ biên giới phía Nam và xuất quân đi bình định phương Nam. Từ đây, danh tiếng của làng đóng tàu thuyền nổi danh khắp trong Nam, ngoài Bắc và lan sang tận Trung Quốc.
 


Làng Trung Kiên (xã Nghi Thiết, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An) được biết đến là một làng nghề đóng thuyền có truyền thống lâu đời.

Đến nay, trải qua nhiều biến cố thăng trầm, làng nghề vẫn luôn tồn tại, phát triển. Trong thời kì dân tộc Việt Nam tiến hành các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, Trung Kiên chính là một trong những xưởng sản xuất chính làm nên những tàu, thuyền phục vụ chiến đấu, vận tải. Đã có lúc thực dân Pháp ném bom thiêu rụi làng (năm 1952) nhưng Trung Kiên vẫn hiên ngang tồn tại, bền bỉ với nghề truyền thống của mình. Những năm 1958-1960, làng Trung Kiên là cơ sở đóng tàu không số đầu tiên của cả nước. Trước đây, làng nghề Trung Kiên đóng tàu bằng kỹ thuật và phương tiện thủ công. Người thợ Hoàng Lao nổi tiếng tài hoa, kỹ thuật bí truyền, rất khéo léo và tinh xảo trong từng đường cưa, nhát đục… Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, đến thời bình, làng nghề Trung Kiên tiếp tục sứ mệnh của mình, liên tục sáng tạo, cải tiến chất lượng, áp dụng khoa học – kỹ thuật để sản xuất ra những con tàu phục vụ công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. 

Vào dịp đầu Xuân năm mới, du khách nên về với Trung Kiên để được chứng kiến nghi lễ khai mộc thiêng liêng của người dân làng nghề. Mỗi cơ sở đóng tàu, thuyền sẽ chọn cho mình một giờ khai mộc khác nhau tùy theo yếu tố hợp tuổi với người chủ xưởng. Nghi lễ khai mộc bên cạnh ý nghĩa tâm linh còn mang giá trị văn hóa truyền thống, giáo dục thế hệ trẻ nhớ đến thuở lập làng lập nghề, tri ân nghề đóng thuyền đã mang lại cho làng sức sống bền bỉ.

Còn vô số làng nghề ở Nghệ An với những câu chuyện hấp dẫn như Làng đa nem Diễn Ngọc (Diễn Châu), Làng cá nướng Diễn Vạn (Diễn Châu, Làng cói Hưng Hòa... Trong số 152 làng nghề ở Nghệ An phong phú các loại hình: làng nghề mây tre đan; làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm; làng nghề sản xuất chiếu cói, chổi đót, giấy dó; làng nghề mộc dân dụng và mỹ nghệ, đóng tàu thuyền, trống;  làng nghề chế biến hải sản; làng nghề ươm tơ, móc sợi, dệt thổ cẩm; làng nghề chẻ chu hương, sản xuất hương; làng nghề sản xuất gạch ngói;  làng nghề cơ khí và  làng nghề trồng cây cảnh. Sản phẩm làng nghề phong phú, nhiều chủng loại, một số sản phẩm đã đi vào thị trường, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như: miến gạo Phú Thành - Quỳnh Hậu, hương trầm Tân Lạc,Tân Hương - Quỳ Châu, nước mắm Phú Lợi - Quỳnh Dị, mây tre đan Đức Phong, tương Nam Đàn, gạch, ngói Cừa – Nghĩa Hoàn... Hoạt động làng nghề đã giải quyết việc làm tại chỗ cho hàng ngàn lao động góp phần phát triển kinh tế địaphương, nâng cao đời sống nhân dân. Nhiều làng, xã đã làm giàu nhờ phát triển kinh tế làng nghề.

>> Có thể nói sản phẩm làng nghề hàm chứa tinh hoa văn hóa và trở thành di sản văn hóa dân tộc. Ông cha ta đã để lại một kho tàng nghề truyền thống quý giá vẫn đang tồn tại và phát triển trong cuộc sống hiện đại hôm nay vừa phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước vừa xuất khẩu, vừa góp phần gìn giữ văn hóa đặc trưng của từng địa phương.

Làng Nghề - Còn đó những khó khăn

Hiện nay trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới, các làng nghề Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng đang lâm vào tình cảnh hết sức khó khăn, thiếu vốn, thiếu nguyên liệu sản xuất, thị trường xuất khẩu bị thu hẹp.  Thực trạng đó đang đòi hỏi những biện pháp giải cứu cho làng nghề trước hết là để tháo gỡ khó khăn về kinh tế, giải quyết công ăn việc làm cho hàng triệu lao động nhất là khi nhiều người mất việc ở thành phố, khu công nghiệp trở về làng chưa có công ăn việc làm. Việc giải cứu còn có ý nghĩa sâu xa là bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc của các làng nghề. 

Ðể giải quyết vấn đề vốn, nguyên liệu, xúc tiến thương mại mở rộng thị trường xuất khẩu, tập trung khai thác tốt thị trường trong nước thì các cơ sở, hộ sản xuất nhỏ lẻ khó tìm ra hướng đi đúng, đồng thời "lực bất tòng tâm". Cần hình thành ngay một ban chỉ đạo Nhà nước về tư vấn phát triển bền vững các làng nghề, hình thành Quỹ hỗ trợ bảo tồn, phát triển các làng nghề theo hướng mỗi làng một nghề; tiến hành quy hoạch các làng nghề theo nhu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu tránh tình trạng mạnh ai nấy làm xảy ra ứ đọng sản phẩm. Trước mắt, tập trung tiêu thụ sản phẩm thủ công ở trong nước. Các doanh nghiệp, làng nghề cần gắn kết với nhau để vạch kế hoạch tiếp cận sâu rộng nhu cầu của thị trường trong nước, nhu cầu của từng sản phẩm, từng khu vực thị trường để có kế hoạch sản xuất kinh doanh, thiết lập hệ thống phân phối, lộ trình giảm giá thành sản phẩm, nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã hàng hóa. Ðể tiêu thụ hàng hóa ở thị trường trong nước thì việc quảng bá, trưng bày, bán sản phẩm là rất quan trọng. Hiện nay có nhiều khu triển lãm, nhà văn hóa thỉnh thoảng mới tổ chức các sự kiện còn thường ngày vẫn để trống hoặc cho thuê đám cưới, tại sao ở những nơi đó trong thời gian trống không thể tổ chức các phiên chợ làng nghề vừa bán sản phẩm vừa kinh doanh ẩm thực truyền thống. Mở rộng hệ thống bán lẻ, trưng bày và bán hàng trong các lễ hội truyền thống, liên kết với ngành du lịch tổ chức các tua du lịch làng nghề....

Bên cạnh đó, vấn đề xây dựng, phát triển thương hiệu - yếu tố cạnh tranh cơ bản để làng nghề tồn tại, phát triển một cách bền vững trong bối cảnh tự do hóa thương mại hiện nay vẫn chưa được quan tâm, nhận thức đúng mức. Những năm gần đây, ý thức được tầm quan trọng của việc xây dựng thương hiệu nên một số làng nghề truyền thống đã quan tâm thực hiện như nước mắm Vạn Phần, Cam Vinh.... Có thương hiệu trên thị trường giúp việc tiêu thụ sản phẩm được tốt hơn, đời sống của người lao động cũng được nâng cao.

Tuy nhiên, trên thực tế những làng nghề xây dựng, đăng ký được thương hiệu cũng mới chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Bên cạnh đó, tình trạng hàng giả hàng nhái xuất hiện khiến mất uy tín làng nghề. Thậm chí, ở một số làng nghề lại đang đứng trước nguy cơ mai một. Trong khi đó, để làng nghề tồn tại, phải gắn liền với cuộc sống của người dân rồi mới tính đến chuyện xây dựng thương hiệu.

Ngoài nguyên nhân do quy mô nhỏ lẻ, ngay bản thân một số làng nghề đang làm ăn được cũng không mặn mà mấy với việc xây dựng thương hiệu. Cơ sở sản xuất, kinh doanh vẫn chưa thực sự quan tâm đến vấn đề thương hiệu, nhãn hiệu hàng hóa, hay công tác quảng cáo, tiếp thị... Điều này, khiến cho các làng nghề có thể tồn tại chứ khó có sự phát triển.

Thậm chí, có những làng nghề đã xây dựng được thương hiệu chung, được Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam công nhận, nhưng việc kêu gọi các hộ sản xuất, kinh doanh tham gia cũng gặp khó. Mặc dù đã được chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa, song đến nay vẫn có nhiều hộ kinh doanh tự cho rằng mình chỉ hoạt động nhỏ lẻ, không cần phải đăng ký kinh doanh thương hiệu. Điều này, đồng nghĩa với việc họ chấp nhận sản phẩm của mình sẽ không được bảo hộ trong một thương hiệu chung. 

Có thể nói, để các làng nghề truyền thống “sống” được trong giai đoạn hiện nay, còn đó nhiều lắm những trăn trở, băn khoăn.

>> Làng nghề thủ công là một phần không thể thiếu của làng xã nông nghiệp cổ truyền, vì nó phản ánh đầy đủ thuộc tính tự cung, tự cấp và tính khép kín cố hữu của làng xã nông nghiệp. Mặt khác, làng nghề lại biểu hiện tính năng động, sáng tạo của người nông dân trong quá trình thích ứng với điều kiện địa lý, kinh tế xã hội nhất định, đồng thời thể hiện rất rõ yếu tố mở của xã hội tiểu nông. 
 
Khánh Huyền
CHIA SẺ ĐẾN BẠN BÈ: