HOTLINE: 0904 89 4444

Giá trị truyền đời di sản tín ngưỡng thờ Mẫu
(Phương Nam Plus) - Ngày 1/12/2016, “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” đã được UNESCO vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Mặc dù không phải là nơi khởi nguồn và thịnh hành tín ngưỡng này nhưng Nghệ, Tĩnh có khá nhiều đền, điện, phủ thờ mẫu. Những năm gần đây, ngoài dịp đâu năm mới, nghi lễ này đã được thực hành thường xuyên hơn.
23:03 08-12-2020


Di sản tín ngưỡng thờ Mẫu cần được bảo tồn và thực hành đúng hướng

Nét đẹp của văn hóa Việt

Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt đã có từ lâu đời, ra đời từ cuộc sống đấu tranh với thiên nhiên khắc nghiệt, cường quyền đè nén và nạn ngoại xâm tàn bạo. Vì thế nó gắn liền với đời sống của người dân lao động, thể hiện sự giao lưu văn hóa cũng như mối quan hệ bình đẳng, gắn bó mật thiết giữa các dân tộc Việt Nam.

Không chỉ thỏa mãn ước mơ về đất trời mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, vạn vật nảy nở sinh sôi của người nông dân thời phong kiến, tín ngưỡng thờ Mẫu còn đáp ứng nhu cầu tâm linh của tầng lớp thương nhân đô thị, hình thành từ thế kỷ 17 và phát triển mạnh đến nay. Không chỉ chứa đựng giá trị đạo đức và nhân văn sâu sắc, đó là tâm thức “uống nước nhớ nguồn”, trong đó người Mẹ - Mẫu là trung tâm. Tín ngưỡng này còn thể hiện một cách độc đáo tinh thần yêu nước, đạo lý uống nước nhớ nguồn thông qua việc tôn vinh những người có công với đất nước. Nhân vật được thờ ở các phủ, điện thờ Mẫu thường là những anh hùng đã chiến đấu hy sinh vì nền độc lập, tự do của dân tộc.

Với những yếu tố văn hóa dân gian như trang phục, âm nhạc, múa, hát chầu văn, diễn xướng dân gian được kết hợp một cách nghệ thuật, tín ngưỡng thờ Mẫu được xem là “bảo tàng sống” lưu giữ lịch sử, di sản và bản sắc văn hóa của người Việt. Trong đó, nghi lễ chầu văn (hay còn gọi là hầu đồng) là một nghi thức tiêu biểu. Nghi lễ hầu đồng được thực hiện bài bản có tính thẩm mỹ cao và giàu yếu tố văn hóa dân gian, phản ánh tín ngưỡng thờ Mẫu của dân tộc Việt Nam.

Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt phân bố ở nhiều địa phương: Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc Bộ, Trung Bộ, trong đó Nam Định được coi là trung tâm với gần 400 điểm thờ cúng Thánh Mẫu. Mặc dù Nghệ, Tĩnh không là địa phương thịnh hành tín ngưỡng thờ Mẫu. Tuy nhiên, từ lâu tín ngưỡng này đã được nhân dân hết sức coi trọng. Trên địa bàn có nhiều ngôi đền thờ Mẫu như đền Cờn, đền Hồng Sơn, đền Ông Hoàng Mười… Mỗi năm, đón hàng nghìn nhóm hầu đồng đến thực hành tín ngưỡng.
 


Các thanh đồng thầy cúng khi cũng ở đền, phủ, khi lại ở tư gia



Ngoài lễ đầu năm, các ngày thường cũng có rất nhiều nhóm hầu đồng đến thực hành tín ngưỡng.

Thực hành và bảo tồn đúng hướng

Những giá trị văn hóa nổi bật của tín ngưỡng thờ Mẫu là không thể phủ nhận. Nhưng từ thực tế lâu nay cho thấy, loại hình tín ngưỡng này trong thời kỳ kinh tế thị trường bùng phát và có chiều hướng khó kiểm soát, khiến cho một số cá nhân lợi dụng, trục lợi và làm sai lệch giá trị văn hoá, tạo ra những hệ lụy không tốt trong xã hội. Nghi lễ hầu đồng đang dần bị biến dạng, bị thương mại hóa. Nhu cầu hầu đồng của người dân ngày một tăng, dẫn đến hiện tượng quá tải trong việc tổ chức hầu đồng ở các đền phủ lớn. Tình trạng một số đền, phủ xuất hiện nhiều đồng đua, đồng đú - những người không có căn cốt hầu đồng nhưng chạy theo loại hình diễn xướng này như một sự cuồng tín, học hát vội vã, không theo quy chuẩn, làm mất đi nét đẹp của tín ngưỡng thờ Mẫu.

Để loại hình tín ngưỡng này giữ được những giá trị truyền thống, phù hợp với thần phong mỹ tục, theo nhiều nhà nghiên cứu, quản lý văn hóa thì cần xây dựng quy ước cho việc tổ chức nghi lễ lên đồng từ lễ vật cung tiến, hàng mã, trang phục, hóa trang, vũ đạo, âm nhạc, cách thức ban phát lộc thánh… để tiến tới xây dựng những vấn hầu thanh lịch, tránh phô diễn, khoe khoang giàu có, trục lợi cá nhân trong các hoạt động liên quan đến tín ngưỡng thờ Mẫu.

Quan trọng nhất vẫn là việc giáo dục đối với đội ngũ những người hành nghề của tín ngưỡng này và cũng phải để cho người dân ta hiểu rất rõ, tín ngưỡng này không chỉ là có lên đồng mà còn rất nhiều hình thức như: Lễ hội, sáng tạo văn chương, nó có tình thương của người mẹ… Cho nên phải làm cho người dân nhận thức được và chính bản thân của ông đồng, bà đồng nhận thức được cái đó, kể cá những cái chúng ta cảm thấy là phức tạp nhất. Ví như ranh giới giữa tín ngưỡng và mê tín của hầu đồng, không nên áp dụng các biện pháp hành chính quá cứng nhắc và máy móc. Từ đó mới có thái độ đúng trong việc đưa di sản đi đúng hướng, đúng quy chuẩn.

Cùng với đó, Nhà nước cần vinh danh các nghệ nhân có nhiều công trong việc sưu tầm, truyền dạy hát văn; khuyến khích những thủ nhang, thanh đồng trong công tác bảo tồn, trao truyền những giá trị văn hóa dân gian của tín ngưỡng thờ Mẫu; khuyến khích những nghệ nhân hát văn cao tuổi truyền dạy những bài hát, điệu hát văn cổ cho thế hệ trẻ. Đồng thời, chúng ta tổ chức các tọa đàm, trao đổi về Luật Di sản văn hóa, Công ước năm 2003 nhằm nâng cao nhận thức và ý nghĩa của di sản văn hóa phi vật thể giúp cho việc kết nối, sự bình đẳng, hài hòa giữa thủ nhang, bàn hội. Cộng đồng và chính quyền địa phương cần thiết lập các chương trình giới thiệu và quảng bá rộng rãi về di sản tín ngưỡng thờ Mẫu.

Có thể nói, tín ngưỡng thờ Mẫu là loại hình di sản văn hóa phi vật thể mà mọi người đều có thể tham gia, không phân biệt xu hướng chính trị, tôn giáo, tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp. Bảo tồn và phát huy giá trị Di sản của loại hình tín ngưỡng này góp phần tăng cường vị trí, vai trò của di sản đối với xã hội, làm giàu thêm bức tranh đa dạng văn hóa của Việt Nam và nhân loại nói chung.
 
M.T
CHIA SẺ ĐẾN BẠN BÈ: