HOTLINE: 0904 89 4444

Đền Bạch Trì (Tam Dương) thờ ba vị Sơn Lạc Đại Vương
(Phương Nam Plus) - Những ngày đầu Xuân Tân Sửu, từ phía xa đồi Rừng là đền Bạch Trì (đền Ao Bạch) ở tổ dân phố Long Trì, thị trấn Hợp Hòa, Tam Dương (Vĩnh Phúc) vang lên những lời cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt của nhân dân nơi đây.
15:21 22-02-2021
Trong bối cảnh dịch CoVid 19 diễn biến phức tạp, người dân đều đeo khẩu trang, sát khuẩn và thực hiện hiện giãn cách khi vào đền thắp hương cầu may. Đây là nét sinh hoạt tín ngưỡng văn hóa thường niên của nhân dân được gìn giữ từ lâu đời. Với giá trị về văn hóa, lịch sử đền Bạch Trì được xếp hạng di tịch lịch sử văn hóa cấp tỉnh.
 
 
Đền Bạch Trì uy nghi cổ kính

Đền Bạch Trì toạ lạc trên một quả đồi có tên đồi Rừng đền, diện tích hơn 3ha, cao hơn mặt ruộng xung quanh 30 - 40m. Phía trước đền (hướng Nam) là dòng Sơn Tang (tức sông Phan) lững lờ uốn lượn quanh năm, tạo nên một vùng trũng, rộng, dân địa phương gọi là “Ao Bạch”. Đền Bạch Trì thờ ba vị: Đệ nhất Sơn Lạc Đại Vương, đệ nhị Sơn Lạc Đại Vương, đệ tam Sơn Lạc Đại Vương, thường gọi là 3 anh em Lã Lạc, đã giúp Lã Gia cùng nhân dân trong vùng và nước Âu Lạc chống sự xâm chiếm của triều Tây Hán ở phía Bắc khoảng thế kỷ I trước công nguyên. Từ trung tâm huyện lỵ của huyện Tam Dương di theo hướng TP Vĩnh Yên hướng bên phải khoảng 2 km.
 
 
Tòa đại bái dẫn trước mặt đền

Cụ Hà Quang Hưng, người cao niên ở thị trấn Hợp Hòa cho biết: Theo tài liệu về đền Bạch Trì thì đền có kiến trúc 3 gian thờ dọc, 2 gian ngoài là tiền tế, gian trong cùng bố trí thượng cung bởi sàn ván gỗ nâng cao cách nền 1,60m. Trước mặt đền là bức cuốn thư tam tòa đại bái. Thượng cung bưng ván xung quanh, phía mặt tiền có cửa võng, tạo thành nơi kín đáo, thâm nghiêm - nơi thần ngự. Diện tích mặt bằng kiến trúc đền là 76m2. Kết cấu vì kèo theo dạng thức “chồng rường giá chiêng”, gồm 5 bộ vì, 4 hàng chân (20 cột gỗ lim) kê trên đá tảng tạo thế vững chãi cho ngôi đền. Đây là loại hình di tích ở vùng đất rộng, người thưa, nơi thờ tự thường được dựng trên một quả đồi - gò nhưng kiến trúc nhỏ, đáp ứng nhu cầu sử dụng phù hợp với địa bàn dân cư thưa thớt.
 
 
Du khách thắp hương kính bái đầu năm

Hiện đền còn lưu giữ nhiều mảng chạm khắc gỗ truyền thống với trình độ kỹ thuật tinh xảo, khả năng tư duy sáng tạo, nghệ thuật sâu sắc và tâm nghề chí thành. Các bức chạm gỗ dân gian về các đề tài “tứ linh” (Long - Ly - Quy - Phượng) với các mô típ: Rồng ổ, phượng càm thư, lân cõng chữ thọ,… được thể hiện rất sắc nét, duyên dáng, uyển chuyển, sống động qua kỹ thuật đục bong, chạm lộng trên các bức cốn nách, xà rồng, bức vỉ ruồi đầu hồi, cửa võng,… đã trở thành những tác phẩm nghệ thuật chạm khắc gỗ cổ truyền của cha ông ta ở thế kỷ XIX, góp phần tạo nên những giá trị văn hoá truyền thống được lưu giữ tại đền Bạch Trì, làm khuôn mẫu cho lối trang trí kiến trúc thờ tự cộng đồng của vùng quê trung du Bắc Bộ.
 
 
Phóng viên Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam chụp ảnh kỷ niệm tại đền

Theo cuốn Tam Dương trên đường đổi mới, được NXB Văn hóa Thông tin và Công ty VH Trí Tuệ Việt phát hành năm 2006, thông tin rõ nét về thần được thờ ở đền Bạch Trì: Cuối đời Hùng Duệ Vương, đầu đời An Dương Vương, thế kỷ III. Trước Công nguyên, ở đất Quảng Oai, Sơn Tây có một gia đình: chồng là Lã Trọng đã 50 tuổi và vợ là Bạch Thị Cẩn đã 40 tuổi mà vẫn chưa có con. Ông bà phải nuôi người con của anh họ làm con nuôi, đặt tên là Lã Gia. Ông bà có nghề làm thuốc và thường làm điều thiện giúp người. Một đêm bà nằm mộng thấy bà nuốt một quả trứng và thấy một con rồng trắng bay tới phía bà. Từ đó, bà mang thai. Ngày 9 tháng 9, bà sinh được một bọc ba con trai diện mạo khác thường, trí tuệ thông minh, mới ba tuổi đã biết kính trên nhường dưới, nghe người học mà biết, nghe người nói mà hiểu. Ông bà đặt tên là Nhất Lạc, Nhị Lạc, Tam Lạc. Khi 7 tuổi ba anh em bắt đầu đi học. Đến năm 13 tuổi, ba anh em đã nổi tiếng cả vùng về sức lực và thiên tài võ nghệ. Khi họ 15 tuổi, ông Lã Trọng và bà Bạch Thị Cẩn cùng mất một ngày. Ba năm sau, đoạn tang bố mẹ, Lã Gia (sử cũ còn chép là Lữ Gia) vào triều đình Nam Việt được tuyển dụng làm triều thần, sau này được thăng tới chức Thừa tướng.
 
 
Cuốn thư trước mặt đền được xây dựng khang trang.

Từ trại Long Trì, ba anh em Đô thống Lạc nhận được lệnh Lã Gia đem 5.000 quân lên biên ải chặn đánh Hán binh. Ba vị đã đánh nhiều trận, tiêu diệt nhiều giặc Hán. Nhưng trong một trận đánh gần đất quê hương, gặp lực lượng địch đông gấp bội áp đảo, ba vị bị trọng thương vào đầu. Biết tình thế không thể chiến đấu được nữa và không thể sa vào tay giặc, ba vị phi ngựa chạy về trại Long Trì. Đến một cái quán gần ngã ba đường, gặp một bà cụ, ba vị liền hỏi: "Đầu chúng tôi như thế này thì sự thể sống chết ra sao?". Bà cụ trả lời: "Xưa nay chưa bao giờ có người đứt cổ mà sống được". Ba ông vội phóng ngựa lên đến đỉnh núi Rừng Thần gần Ao Bạch thì cùng ngã ngựa và hóa. Hôm ấy là ngày mùng 3 tháng giêng. Hôm sau, dân Long Trì lên núi thì thấy thi hài ba vị đã được mối xông kín nên đắp điếm phần mộ và dựng miếu thờ như lời ba vị đã dặn.

Sau này, các triều đại phong kiến tự chủ nước ta đều xuống chiếu cấp ruộng cho làng Long Trì để thờ phụng ba vị. Thời vua Trần Thái Tôn (1225), ba vị được truy phong:  "Đương cảnh thành hoàng hùng chấn uy linh phù phụ đạo (đệ nhất sơn Lạc đệ nhị sơn Lạc, đệ tam sơn Lạc) đại vương". Thời vua Lê Thái Tôn (1426), ba vị được phong "Hiển ứng âm phù cường địch anh linh".
 
Tiến Dũng
CHIA SẺ ĐẾN BẠN BÈ: